- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2019/HS-ST Ngày: 05 – 9 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hữu Chí.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Điệp;
2. Bà Trần Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu–Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2019, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 09/TB-TA ngày 27/8/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1960 tại tỉnh H1.
Nơi đăng ký HKTT: ấp S, xã V, huyện N, tỉnh Đ; Chỗ ở hiện nay: ấp S, xã V, huyện N, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Hoàng Thị H2 (đã chết); Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim Th, sinh năm 1965 và có 07 người con (Lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2003); Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân tốt; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 52/CSĐT-TH ngày 18/04/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N (có mặt).
- Bị hại: Anh Đinh Văn H3, sinh năm 1995 (đã chết ngày 31/12/2018).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Ông Đinh Văn C, sinh năm 1970 (Vắng mặt);
Bà Vũ Thị B, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: T, xã K, huyện Đ1, tỉnh G.
- Người làm chứng: Anh Đặng Văn B, sinh năm 1976 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 30/12/2018, Nguyễn Văn H ( Không có giấy phép lái xe theo quy định), điều khiển xe máy kéo không biển số và kéo theo rơ mooc tự chế đi thu gom rác. Khi đến Km 24 + 800 đường H3 Vương thuộc ấp T1, xã V, huyện N, thì H cho xe đậu bên phải lề đường theo hướng P1 đi xã P sau đó H điều khiển xe chuyển hướng quay đầu lại đi về hướng xã P1 thì va chạm với xe mô tô biển kiểm soát: 81B1 – 57318 do Đinh Văn H3 (sinh năm: 1995), ngụ tại xã K, huyện Đ1, tỉnh G điều khiển theo hướng xã P đi xã P1. Tai nạn xảy ra làm anh Đinh Văn H3 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh đa khoa tỉnh Đ, đến ngày 31/12/2018 thì anh Đinh Văn H3 chết tại Bệnh viện.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 30/12/2018 của Công an huyện N, xác định như sau:
- Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường thẳng, hai chiều xe chạy, có vạch sơn trắng không liên tục phân tuyến, mặt đường được trải bê tông nhựa nóng phẳng, chiều rộng mỗi phần đường là 3 mét 50, đoạn đường có tổ chức gắn đèn đường chiếu sáng nơi xảy ra va chạm là khoảng tối giữa hai trụ đèn, tốc độ tối đa của đoạn đường là 50km/h. Hiện trường chọn mép đường bên phải theo hướng xã P đi xã P1 làm chuẩn, chọn trụ điện số 76 bên lề phải làm mốc hiện trường, trụ điện cách mép đường bên phải là 4 mét 20, cách trục bánh xe trước của xe mô tô biển kiểm soát: 81B1 – 573.18 về hướng xã P1 là 19 mét 50 và chếch sang lề trái.
- Xe máy kéo không biển số, số máy YM 273 – 92639, kéo theo rơ móc tự chế được ký hiệu số 2 sau tai nạn xe dừng lại trên phần đường bên phải, đầu xe quay về hướng xã P1, rơ mooc tự chế dừng khoảng giữa đường và ngang mặt đường phần đầu quay sang phải và được nối với đuôi xe máy kéo bằng thanh kim loại cứng. Điểm tiếp xúc với mặt đường ở mặt ngoài lốp bánh xe trước bên phải của xe máy kéo ở trên lề phải. Điểm tiếp xúc với mặt đường ở ngoài lốp bánh xe xe sau bên phải của xe máy kéo cách mép đường bên phải là 0 mét 30. Điểm tiếp xúc với mặt đường ở ngoài mặt lốp bánh xe trước bên trái của xe máy kéo cách mép đường bên phải là 0 mét 50. Điểm tiếp xúc với mặt đường ở mặt ngoài lốp bánh xe sau bên trái của xe máy kéo cách mép đường bên phải là 1 mét 30. Điểm tiếp xúc với mặt đường ở mặt ngoài lốp bánh xe bên trái của rơ mooc tự chế cách mép đường bên phải là 3 mét 90. Điểm tiếp xúc với mặt đường ở ngoài lốp bánh xe bên phải của rơ mooc tự chế cách mép đường bên phải là 3 mét 65.
- Xe mô tô 81B1- 573.18 được ký hiệu số 2 sau tai nạn xe ngã nghiêng sang bên phải, trên phần đường bên phải và dính vào thành bên phải của rơ móc tự chế, đầu xe quay sang lề trái và chếch về hướng xã P1. Trục bánh xe trước cách mép đường bên phải là 3 mét 20, cách trục bánh bên phải của xe rơ móc tự chế về hướng xã P1 và chếch sang lề trái là 0 mét 40. Trục bánh xe sau cách mép đường bên phải là 2 mét 15.
- Vết cày của xe mô tô biển kiểm soát: 81B1 – 573.18 được ký hiệu số 3 để lại trên hiện trường sau va chạm ở trên phần đường bên phải, có chiều hướng xã P đi xã P1 kéo dài đến vị trí điểm đầu vết cày cách mép đường bên phải là 2 mét 70.
- Vết phanh của xe mô tô biển kiểm soát: 81B1 – 573.18 được ký hiệu số 4 để lại trên hiện trường trước va chạm ở trên phần đường bên phải, có chiều hướng xã P đi xã P1. Vết phanh có màu đen, dài 17 mét 70. Từ điểm đầu của vết phanh cách mép đường bên phải là 2 mét 60, cách điểm đầu vết cày 3 về hướng xã P1 là 0 mét 15.
- Vết máu của nạn nhân được ký hiệu số 5 ở trên phần đường bên phải, có dạng chảy dài vào lề phải. Từ điểm đầu vết máu cách mép đường bên phải là 2 mét 30, cách trục bánh xe sau của xe mô tô biển kiểm soát: 81B1- 573.18 về hướng P1 là 0 mét 50.
+ Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 30/12/2018 xe máy kéo không biển số, để lại như sau.
- Phần hông bên phải, gầm cạnh góc phía trước có vết móp thụm kim loại, chiều hướng từ phải sang trái, có dính nhiều vết sơn màu đỏ của xe mô tô biển kiểm soát: 81B1 – 573.18, kích thước 33cm x 17cm điểm cao nhất cách vuông góc mặt đường 89cm rơ mooc.
- Phần bên hông phải phía trên đầu móp thụng, để lại vết sạch bụi bẩn và dính máu, kích thước dài 8cm, cách vuông góc dấu móp thụm 57cm, cách vuông góc mặt đường 145cm rơ mooc.
+ Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 30/12/2018. xe mô tô biển kiểm soát: 81B1- 573.18, để lại như sau:
- Cụm đèn chiếu sáng phía trước vỡ nát hoàn toàn, kích thước 35cm x 22cm).
- Cụm dây điện phía trước đầu xe ngay phần cổ xe có vết dập dài 5cm.
- Mặt nạ phía trước vỡ nát hoàn toàn, kích thước 33cm x 30cm.
- Bửng chắn gió hai bên bị bung hở khỏi vị trí cố định ban đầu.
- Mặt phía trước cần đạp phanh đoạn phía dưới ống xả có vết mài mòn kim loại.
- Ghi đông bị cong về sau, chiều hướng từ trước ra sau.
- Chân ga bánh trước và bánh xe bị cong về bên phải, chiều hướng từ trái sang phải.
- Mặt tiếp xúc lốp bánh sau bị mài mòn cao su do tiếp xúc ma sát với mặt đường.
+ Tại bản giám định pháp y số: 819/PY/54 – KLGĐPY ngày 25/01/2019 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đ kết luận: Nguyên nhân tử vong của anh Đinh Văn H3 là do chấn thương, chấn thương sọ não vỡ hộp sọ, tụ máu ngoài màng cứng, dập não.
+ Tại bản kết luận giám định của Sở Giao thông Vận tải Đ số: 87/TTĐKXCG ngày 14/03/2019 kết luận như sau: Kết quả giám định an toàn kỹ thuật xe máy kéo không biển số, kéo theo rơ mooc tự chế, hệ thống phanh trên xe máy kéo công nông có các chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, hệ thống không bị hư hỏng trước, trong và sau tai nạn. Hệ thống chiếu sáng tín hiệu trên rơ mooc tự chế chỉ có một đèn tín hiệu phía trái, tại thời điểm kiểm tra không hoạt động.
+ Ngày 17/06/2019 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện N giám định bổ sung xe máy kéo không biển số, kéo theo rơ mooc tự chế có thể chở được tải trọng bao nhiêu.
+ Tại bản kết luận giám định của Sở Giao thông Vận tải Đ số 185/TTĐKXCG ngày 21/06/2019 kết luận: Không có cơ sở, căn cứ để xác định được trọng tải của xe máy kéo không biển số, kéo theo rơ mooc tự chế; Lý do các linh kiện và phụ tùng cấu tạo của rơ mooc chưa được đăng ký kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật bởi Cục Đăng kiểm Việt Nam.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và có ý kiến:
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 24 đến 36 tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước xe máy kéo không biển số kéo theo rơ mooc tự chế.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát: 81B1 – 57318 có giấy tờ hợp pháp đã trả lại cho chủ sở hữu Đinh Văn Chinh.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường cho gia đình anh Đinh Văn H3 số tiền 50.000.000 đồng theo thoả thuận và gia đình người bị hại đã làm đơn bãi nại, không thắc mắc, khiếu nại về sau.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố tại bản Cáo trạng số 62/CT.VKS-NT ngày 01/8/2019. Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện N và nói lời nói sau cùng đã hối lỗi, ăn năn về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đ, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án. Cho thấy: Vào ngày 30/12/2018, Nguyễn Văn H (Không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe máy kéo không biển số, kéo theo rơ mooc tự chế đi thu gom rác. Khi đến Km 24 + 800 đường H3 Vương thuộc ấp T1, xã V, huyện N thì H cho xe đậu bên phải lề đường theo hướng P1 đi xã P. Sau đó H điều khiển xe chuyển hướng quay đầu lại đi về hướng xã P1 thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 81B1 – 57318 do Đinh Văn H3 điều khiển theo hướng xã P đi xã P1. Tai nạn xảy ra làm Đinh Văn H3 bị thương nặng và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh đa khoa tỉnh Đ. Đến ngày 31/12/2018 thì Đinh Văn H3 chết tại Bệnh viện. Như vậy nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của anh Đinh Văn H3 là do bị cáo không tuân thủ các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ nên có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên bản Cáo trạng số 62/CT.VKS-NT ngày 01/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đ truy tố bị cáo Nguyễn Văn H theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình nạn nhân 50.000.000 đồng và được gia đình nạn nhân làm đơn bãi nại, không thắc mắc khiếu nại về sau nên cần xem xét các tình tiết trên để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng đã thực hiện hành vi điều khiển xe máy kéo kéo theo rơ mooc tự chế chuyển hướng quay đầu không tuân thủ pháp luật giao thông đường bộ đã dẫn đến cái chết cho anh Đinh Văn H3. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, vi phạm khoản 2, 3 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ nên cần xét xử nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở T1 dân có ích cho xã hội và cũng để răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét cho bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả và được gia đình người bị hại làm đơn bãi nại phù hợp quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường 50.000.000 đồng cho gia đình người bị hại và gia đình người bị hại đã làm đơn bãi nại, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
- 01 xe mô tô biển kiểm soát: 81B1 – 57318 có giấy tờ hợp pháp nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu Đinh Văn Chinh là đúng pháp luật.
- 01 xe máy kéo không biển số kéo theo rơ mooc tự chế cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326, 327 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 47; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H – 02 (Hai) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt vào trại thi hành án phạt tù.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe máy kéo không biển số kéo theo rơ mooc tự chế (Hiện Chi cục Thi hành án Dân sự huyện N đang tạm giữ tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 09/8/2019.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử buộc: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ Bản án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo Nguyễn Văn H; - Người đại diện hợp pháp của bị hại ; - VKS,THA,CAH; - TAND tỉnh Đ; - VKSND tỉnh Đ; - Sở Tư pháp (Nơi bị cáo đăng ký HKTT); - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký và đóng dấu) Dương Hữu Chí |