vanban.org

Bản án 65/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2018. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói được niêm phong mang số vụ 158/2019/Củ Chi có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra; 01 điện thoại không rõ nhãn hiệu, màu vàng, đã hỏng không khởi động … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2019/HS-ST
Ngày: 02-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Võ Thị Thu Thảo;

- Bà Trần Thị Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lụa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình C, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1991 tại tỉnh C; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã B, huyện Thới B, tỉnh C; chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện C, Thành phố H; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình S và bà Nguyễn Thị S1 (chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 08/12/2018 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/12/2018, Nguyễn Đình C điện thoại cho một người tên P nhờ mua giúp 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) chất ma túy, sau đó P liên lạc lại và kêu C đến trước khu vực nhà thờ chợ S thuộc xã T, huyện C sẽ có người mang ma túy đến giao. Sau khi thỏa thuận xong, C đi xe buýt đến điểm hẹn và có 01 nam thanh niên bịt mặt giao chất ma túy cho C, C trả 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) và nhận 01 gói nylon chứa chất ma túy của người này. C mang ma túy về nhà trọ ở ấp H, xã T, huyện C chia thành 10 gói nhỏ để trong hộp nhựa mang vào nhà vệ sinh cất giấu để dành sử dụng.

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 08/12/2018, Công an xã T, huyện C kiểm tra hành chính phòng trọ số 12 của C (do ông Phạm Đ làm chủ) phát hiện C đang tàng trữ 10 gói nylon chứa tinh thể không màu trong nhà vệ sinh, Công an xã T, huyện C đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lúc bắt C tại phòng trọ còn có bạn của C là Trần Văn N đến chơi cùng C.

Vật chứng vụ án bị thu giữ gồm:

- 10 (Mười) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài, có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Đình C và hình dấu Công an xã T, huyện C;

- 01 (Một) dao lam;

- 02 (Hai) đoạn ống hút nhựa;

- 01 (Một) điện thoại di động đã bị hư không khởi động được;

- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 275.000đ (Hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

Tại bản Kết luận giám định số 158/KLGĐ-H ngày 14/12/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự (Công an Thành phố Hồ Chí Minh) thể hiện: Tinh thể không màu trong 10 gói nylon được niêm phong là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,4170g, loại methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 18 tháng 3 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Nguyễn Đình C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đình C thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo sử dụng ma túy từ tháng 9/2018, do cần tiền để mua ma túy sử dụng nên vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/12/2018, bị cáo mang điện thoại di động hiệu Iphone của mình đến tiệm cầm đồ Hoàng Đ cầm cố lấy 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) tiêu xài, bị cáo tiêu xài hết 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng), mua lại 01 điện thoại di động với giá 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng), sau đó bị cáo điện thoại cho người bạn tên P (không rõ họ tên và chỗ ở cụ thể) để nhờ P mua dùm 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) chất ma túy với mục đích để dành sử dụng từ từ. Người tên P hẹn bị cáo đến nhà thờ chợ S thuộc xã T, huyện C để lấy chất ma túy và giao tiền. Khi đến điểm hẹn bị cáo gặp một người thanh niên bịt mặt nhận chất ma túy, giao tiền và đem ma túy về nhà chia thành 10 gói nhỏ bỏ trong hộp nhựa cất giấu trong nhà vệ sinh, tiếp theo bị cáo điện thoại cho bạn là Trần Văn N nhờ mua cơm hộp mang đến nhà trọ cho bị cáo. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, Công an xã T, huyện C đến nhà trọ kiểm tra phát hiện bị cáo đang cất giấu ma túy trong nhà vệ sinh. Công an xã T, huyện C có thu giữ của bị cáo số tiền 275.000đ (Hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) nhưng bị cáo không muốn nhận lại.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 và Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C mức án từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 03 (Ba) năm tù.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Đình C có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nghề nghiệp không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Điều 32 và Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xử lý như sau:

+ 01 (Một) gói được niêm phong mang số vụ 158/2019/Củ Chi có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra; 01 điện thoại không rõ nhãn hiệu, màu vàng, đã hỏng không khởi động được; 01 (Một) dao lam; 01 (Một) đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 (Một) đoạn ống hút nhựa màu trắng sọc đỏ (bên trong không chứa gì), đây là những đối tượng, công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy;

- Số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 275.000đ (Hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) là tiền của cá nhân bị cáo, do bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên tịch thu nộp ngân sách quỹ Nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Đình C không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Nguyễn Đình C nói lời nói sau cùng: Những ngày ở trong trại giam, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xử nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình lo cho cha già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Đình C có hành vi tàng trữ 10 (Mười) gói nylon là ma túy ở thể rắn tại phòng trọ ở ấp H, xã T, huyện C (qua giám định có khối lượng 1,4170g) nhằm sử dụng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Nguyễn Đình C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình C là nguy hiểm, với phương thức đi mua chất ma túy về lưu giữ, cất giấu để sử dụng. Hành vi này chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ rằng chất ma túy là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp, là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội, thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Về vật chứng vụ án:

- 01 (Một) gói được niêm phong mang số vụ 158/2019/Củ Chi có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra; 01 điện thoại không rõ nhãn hiệu, màu vàng, đã hỏng không khởi động được; 01 (Một) dao lam; 01 (Một) đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 (Một) đoạn ống hút nhựa màu trắng sọc đỏ (bên trong không chứa gì). Các vật chứng trên là đối tượng, công cụ phạm tội nên Hội đồng xét xử xét tịch thu tiêu hủy;

- Số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 275.000đ (Hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) là tiền riêng của cá nhân bị cáo nhưng do bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử xét tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với người thanh niên tên P là người mua dùm chất ma túy cho C và người thanh niên bịt mặt bán chất ma túy cho C cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được, cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với người thanh niên tên Trần Văn N do N không biết bị cáo C tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự, tuy nhiên do N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã T, huyện C đã xử phạt vi phạm hành chính đối với N nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249 và Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2018.

- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói được niêm phong mang số vụ 158/2019/Củ Chi có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra; 01 điện thoại không rõ nhãn hiệu, màu vàng, đã hỏng không khởi động được; 01 (Một) dao lam; 01 (Một) đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 (Một) đoạn ống hút nhựa màu trắng sọc đỏ (bên trong không chứa gì);

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 275.000đ (Hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số 39 ngày 18/02/2019 (bút lục số 63), Lệnh nhập kho vật chứng số 49 ngày 01/3/2019 (bút lục số 65), Phiếu nhập kho vật chứng số 39 (bút lục số 64) và Phiếu nhập kho vật chứng số 49 (bút lục số 66) của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi.

- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Đình C phải chịu án phí 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Cỡ chữ