- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Ngọc B - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lữ Ngọc B. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 12-8-2019 của Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2019/HS-PT Ngày: 26-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Bé
Ông Trần Mười
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Trang là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Lương Thanh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 57/2019/TLPT-HS ngày 25 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Lữ Ngọc B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXPT-HS ngày 11/10/2019.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lữ Ngọc B, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1980 tại Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: thôn V5, xã Phổ T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lữ Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị S; Vợ: Lê Thị Thúy K, Con: Có 02 con, sinh năm 2004 và 2012; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 05/02/2018 bị Công an huyên M xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”;
Nhân thân: Năm 2004 bị Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/01/2019, tại quán cà phê Trung Nguyên của ông Lữ Anh N ở thôn V5, xã Phổ T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi, Lữ Ngọc B cùng Nguyễn Thành L, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh A đang ngồi uống cà phê thì rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bài “Phỏm”, thắng thua bằng tiền. Cách tính tiền thắng thua mỗi ván là 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng; người nào bị ăn gà (bị bắt một lá bài) lượt thứ nhất thì thua số tiền 10.000 đồng, người nào bị bắt một lá bài lượt thứ hai thì thua số tiền 20.000 đồng, người nào bị bắt một lá bài lượt thứ ba thì thua số tiền 40.000 đồng; người nào tới nhất thì thắng số tiền 60.000 đồng, người nào tới nhì thì thua số tiền 10.000 đồng, người nào tới ba thì thua số tiền 20.000 đồng, người về út thua 30.000 đồng; người bị cháy bài thua 40.000 đồng; người nào ù 09 lá thắng số tiền 150.000 đồng, 03 người còn lại mỗi người thua 50.000 đồng; người nào ù 10 lá thắng số tiền 300.000 đồng, 03 người còn lại mỗi người thua 100.000 đồng. Đến 16 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và lập biên bản, thu tại chiếu bạc số tiền 290.000 đồng, thu số tiền dùng vào việc đánh bạc của các đối tượng gồm: Lữ Ngọc B 400.000 đồng, Nguyễn Thành L 750.000 đồng, Nguyễn Thanh T 20.000 đồng, Nguyễn Thanh A 518.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của chiếu bạc này là 1.978.000 đồng.
Ngoài ra, tại quán cà phê còn một chiếu bạc thứ hai gồm 04 người đánh bạc với nhau là Nguyễn H, Lê Anh T, Nguyễn S, Nguyễn Ngọc L, các đối tượng đánh bạc dưới hình thức chơi bài “Phỏm”, thắng thua bằng tiền. Khi bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và lập biên bản thì thu giữ của các đối tượng số tiền như sau: Lê Anh T 150.000 đồng, Nguyễn H 1.150.000 đồng, Nguyễn S 900.000 đồng, Nguyễn Ngọc L bỏ chạy cầm theo số tiền đánh bạc là 160.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của chiếu bạc này là 2.360.000 đồng.
Qua điều tra, xác minh được các đối tượng Nguyễn Thành L, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh A, Lê Anh T, Nguyễn S, Nguyễn Ngọc L đều chưa có tiền án, tiền sự. Đối với Nguyễn H ngày 29/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, Nguyễn H đã nộp phạt và án phí theo quyết định của bản án vào ngày 14/01/2014, nên tính đến lần vi phạm này đã được xóa án tích. Riêng đối với Lữ Ngọc B có một tiền sự vào ngày 05/02/2018 bị Công an huyện M xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2019/HS-ST ngày 12-8-2019, Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lữ Ngọc B phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lữ Ngọc B 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 26/8/2019, bị cáo Lữ Ngọc B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Lữ Ngọc B có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng án treo thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên án hình sự sơ thẩm, không cho bị cáo Lữ Ngọc B hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi của bị cáo Lữ Ngọc B, thấy rằng: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/01/2019, tại quán cà phê Trung Nguyên của ông Lữ Anh N ở thôn V5, xã Phổ T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi, Lữ Ngọc B cùng Nguyễn Thành L, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh A rủ nhau đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh bài “Phỏm”. Cách tính tiền thắng thua mỗi ván là 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng; người nào bị ăn gà (bị bắt một lá bài) lượt thứ nhất thì thua số tiền 10.000 đồng, người nào bị bắt một lá bài lượt thứ hai thì thua số tiền 20.000 đồng, người nào bị bắt một lá bài lượt thứ ba thì thua số tiền 40.000 đồng; người nào tới nhất thì thắng số tiền 60.000 đồng, người nào tới nhì thì thua số tiền 10.000 đồng, người nào tới ba thì thua số tiền 20.000 đồng, người về út thua 30.000 đồng; người bị cháy bài thua 40.000 đồng; người nào ù 09 lá thắng số tiền 150.000 đồng, 03 người còn lại mỗi người thua 50.000 đồng; người nào ù 10 lá thắng số tiền 300.000 đồng, 03 người còn lại mỗi người thua 100.000 đồng. Bị cáo Lữ Ngọc B cùng các đối tượng khác đánh bạc đến 16 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Đ bắt quả tang, thu được số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.978.000 đồng. Mặc dù số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo Lữ Ngọc B có một tiền sự về hành vi đánh bạc vào ngày 05/02/2018, tính đến lần phạm tội này, bị cáo chưa hết thời gian để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lữ Ngọc B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết mới gia đình có công với Nước nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên, xét nhân thân của bị cáo, bị cáo có nhân thân xấu, năm 2004 bị Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, bị cáo có một tiền sự: Ngày 05/02/2018 bị Công an huyên M, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, rèn luyện trở thành công dân tốt, nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Đồng thời, căn cứ quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, thì bị cáo Lữ Ngọc B không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lữ Ngọc B 06 tháng tù là phù hợp, không nặng và cần thiết, đảm bảo sự ren đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo Lữ Ngọc B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lữ Ngọc B. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 12-8-2019 của Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lữ Ngọc B 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Bị cáo Lữ Ngọc B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Đ; - TAND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Năm |