vanban.org

Bản án 65/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Bà Hàng Thị Kim T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Ngô Thị Hoàng C - sinh ngày 04/3/2016. Bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung. Ông V có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2019/HNGĐ-ST
Ngày 28 -10-2019
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ái Vy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Tha;

2. Ông Nguyễn Lơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Hồng Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Ngày 28 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 213/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2019/QĐXX-ST ngày 24 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 , giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Hàng Thị Kim T - sinh năm 1992

Địa chỉ: Tổ dân phố 12 - phường H - thị xã N - Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Ông Ngô Quốc V - sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ dân phố P 2 - phường G - thị xã N - Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 09/5/2019, bản tự khai ngày 14/6/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hàng Thị Kim T trình bày: Bà và ông Ngô Quốc V tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thị xã N năm 2015. Thời gian đầu vợ chồng sống có hạnh phúc nhưng đến năm 2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông V thay đổi tính tình, thường xuyên bài bạc, nhậu nhẹt say xỉn rồi về nhà đánh đập bà. Ông V không quan tâm chăm sóc vợ con và không phụ giúp kinh tế gia đình. Mặc dù bà đã cố gắng chịu đựng nhưng ông V vẫn không khắc phục nên vợ chồng không thể hòa hợp được và đã không chung sống với nhau từ tháng 5/2019 đến nay. Bà T xác định không còn tình cảm, vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn với ông V. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Ngô Thị Hoàng C - sinh ngày 04/3/2016, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung không có.

Bị đơn ông Ngô Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông Ngô Quốc V theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn ông Ngô Quốc V vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa bà Hàng Thị Kim T và ông Ngô Quốc V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hàng Thị Kim T và ông Ngô Quốc V tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thị xã N (giấy chứng nhận kết hôn số 50/2015, quyển số 01/2015 ngày 31/8/2015), đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống với nhau giữa bà T và ông V đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông V thường xuyên say xỉn, bài bạc, bạo hành với vợ làm ảnh hưởng tình cảm dẫn đến bà T và ông V đã không còn sống chung với nhau từ tháng 5/2019. Tại phiên tòa, bà T vẫn cương quyết yêu cầu xin được ly hôn với ông V vì thực sự hai bên không thể hàn gắn được; đối với ông V đã không có thiện chí để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông V đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Bà T và ông V có 01 con chung là Ngô Thị Hoàng C - sinh ngày 04/3/2016. Bà T là người trực tiếp nuôi cháu C và bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét yêu cầu của bà T phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Hàng Thị Kim T được ly hôn ông Ngô Quốc V.

2. Về con chung: Bà Hàng Thị Kim T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Ngô Thị Hoàng C - sinh ngày 04/3/2016. Bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông V có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Bà Hàng Thị Kim T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0008590 ngày 03/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N. Bà T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ