- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn Lù M bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Tẩn Lù M phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu một phong bì
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2018/HSST Ngày: 06-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Hòa.
Bà Trần Thị Mùi.
- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Đồng Xuân Tím - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2018/HSST, ngày 22 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tẩn Lù M; tên gọi khác: không; sinh năm 1970, tại xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: bản C, xã H, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tẩn Xoang P (đã chết) và bà Tẩn San M1 (đã chết); gia đình bị cáo có 05 chị, em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; bị cáo có chồng là Chẻo Lao L, sinh năm 1967 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền sự: không; tiền án: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 02/8/2018, đến ngày 11/8/2018 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo được triệu tập có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 15 phút ngày 02 tháng 8 năm 2018, Tổ công tác đồn Biên phòng Huổi Luông- Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu làm nhiệm vụ tại bản C, xã H, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu phát hiện trên đường liên bản qua bản C có một phụ nữ đang đi bộ theo hướng về trung tâm xã H, huyện Phong Thổ có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính thì nhìn thấy người phụ nữ đó lấy từ trong túi vải thổ cẩm màu xanh đeo trên người ra một gói nilon màu đen thả xuống đất. Tổ công tác yêu cầu người phụ nữ nhặt lên mở ra kiểm tra. Qua kiểm tra gói nilon bên ngoài cùng là lớp nilon màu đen tiếp đến là lớp nilon màu hồng, tiếp nữa là lớp nilon màu đen trong cùng là chất bột khô, màu trắng. Người phụ nữ khai tên là Tẩn Lù M, sinh năm 1970, trú tại bản C, xã H, huyện Phong Thổ, gói nilon thu giữ trong là Heroine, M mua về để sử dụng cho bản thân. Cụ thể M khai khoảng 07 giờ M từ nhà đi ra trung tâm y tế xã để uống Methadone, khi M đi qua bản C thì Mẩy gặp một người phụ nữ dân tộc Dao, khoảng 50 tuổi (M không biết họ tên, địa chỉ ở đâu) giống người nghiện ma túy nên M đến gần người đó, qua trao đổi M đưa cho người phụ nữ đó 100.000 đồng và nhận được một gói Heroine. Nhận gói Heroine, M kiểm tra gói Heroin có đặc điểm ngoài là nilon màu hồng, tiếp đó là lớp nilon màu đen trong là Heroin. Kiểm tra đúng Heroin M gói lại như cũ và cầm trên tay tiếp tục đi đến Trung tâm y tế xã. Trên đường đi do sợ gói Heroin bị ướt M nhặt một mảnh nilon màu đen trên mặt đường gói tiếp ra bên ngoài gói Heroin rồi cất vào trong túi vải đeo ngang trước bụng và tiếp tục đi. Khi M nhìn thấy tổ công tác, sợ bị bắt M đã thả gói Heroin xuống đất nhưng bị phát hiện thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số: 325/GĐ-KTHS, ngày 08/8/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận:" Số chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Lù M có khối lượng 0,26gam. Mẫu vật gửi đến giám định là ma túy loại Heroine...không hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định".
Bản cáo trạng số: 43/CT-VKS, ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Tẩn Lù M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu luận tội và tranh luận: sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa, thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo từ giai đoạn điều tra đến tại phiên tòa hôm nay và sự thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đủ khẳng định quyết định truy tố là đúng cần giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề nghị giải quyết vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, không có tình tiết mới; Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định, nhất trí với luận tội, không có ý kiến tranh luận; bị cáo có thái độ thành khẩn và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi bị cáo Tẩn Lù Mẩy đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng của vụ án, bản kết luận giám định số: 352/GĐ-KTHS, ngày 08/8/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu có trong hồ sơ đủ kết luận: Hồi 08 giờ 15 phút, ngày 02/8/2018, tại khu vực bản C, xã H, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tẩn Lù M, sinh năm 1970, trú tại bản C, xã H, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đang cất giấu trong túi vải đeo ngang bụng 01 gói Heroine được gói ngoài bằng ba lớp nilon có khối lượng 0,26 gam mà M khai khi đang trên đường đi ra trung tâm Y tế xã thì bị cáo mua được của một người phụ nữ, bị cáo mua để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa sử dụng thì bị bắt giữ.
Hành vi mua ma túy để sử dụng cho bản thân không có mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất chính là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước ta; Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vậy, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội cần chấp nhận; Cụ thể điều luật quy định:
“Khoản 1: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam”.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng, do vậy gây nguy hiểm cho xã hội cao. Nhất là loại tội phạm về ma túy, vì ma túy là hệ lụy làm gia tăng người nghiện trong xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng luật hình sự để giáo dục, cải tạo bị cáo, cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa chung, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho công dân.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo sinh ra và lớp lên ở nơi có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khó khăn, bản thân lại không được đi học nên phần nào hạn chế về nhận thức là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo, nhưng vẫn buộc bị cáo phải đi tập trung cải tạo một thời gian vơi mức án tương xứng để bị cáo có thời gian cai nghiện được ma túy, sớm hòa nhập công đồng, trở thành người có ích cho xã hội.
Về vật chứng: Số Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi giám định hết hiện chỉ còn toàn bộ vỏ niêm phong cũ đã được niêm phong cần tịch thu để tiêu hủy vì là vật không có giá trị sử dụng theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự (phong bì niêm phong có đặc điểm và hiện chuyển đến lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/10/2018 giữa Công an huyện Phong Thổ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
Về hình phạt bổ sung: Xét bản thân bị cáo làm ruộng, mục đích mua ma túy chỉ để thỏa mãn nhu cầu của bản thân không có mục đích lợi nhuận; hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử thấy lời đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi, người dân tộc Dao khi đang đi trên đường ở bản C, xã H nhưng bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người đó, ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét xử lý người phụ nữ này trong vụ án là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và tại phiên tòa có lời trình bày xin miễn án phí là có căn cứ theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố bị cáo Tẩn Lù M phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2/ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tẩn Lù M 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù (khấu trừ 09 ngày bị tạm giữ cho bị cáo). Vậy bị cáo còn phải chấp hành 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
3/ Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
4/ Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu một phong bì đã được niêm phong (trong toàn bộ vỏ niêm phong cũ đã được niêm phong) để tiêu hủy; (Phong bì niêm phong hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/10/2018, giữa cơ quan Công an huyện Phong Thổ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
5/Về án phí: Áp dụng Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí Hình sự sơ cho bị cáo Tẩn Lù M .
6/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND hai cấp; - CQĐT cùng cấp; - Cơ quan THAHS; - Nhà tạm giữ; - Bị cáo; - THADS cùng cấp; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu -Lưu: THA-HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |