- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| . Bản án số: 65/2018/HS-ST Ngày 26/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tuân và bà Vàng Thị Bình.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2018/TLST - HS ngày 07 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: không; sinh năm 1967, tại xã Q, huyện T, tỉnh Đ.
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Bản M, xã Q, huyện T, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 4; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không. Con ông Lò Văn D; sinh năm 1938 và con bà Lò Thị Y; sinh năm 1943. Vợ là bà Lò Thị M; sinh năm 1967 và 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1997. Tiền án: Không; tiền sự: không. Tạm giữ từ ngày 13/4/2018 đến ngày 14/4/2018. Bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/4/2018, có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch cho bị cáo: Họ và tên: Lò Văn Giang; sinh năm 1989; trú tại: Bản Sái Ngoài, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào 10 giờ 00 phút, ngày 13/4/2018 tại bản M, xã Q, huyện T, Tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo phát hiện, bắt quả tang bị cáo Lò Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm 02 (hai) gói nhỏ chứa cục chất bột màu trắng đục nghi là Heroine, được gói ngoài bằng giấy nilon màu xanh, thu tại túi quần bên trái Lò Văn T và tạm giữ 50.000đ (năm mươi nghìn đồng).
Tại cơ quan điều tra bị cáo Lò Văn T khai nhận khoảng 17 giờ ngày 12/4/2018, trên đường đi thăm bố của bị cáo tại Bệnh viện huyện T về, bị cáo gặp một người đàn ông giống người nghiện ma túy không biết tên, tuổi, địa chỉ ngoài đường bản M, xã Q, huyện T và mua được của người đàn ông đó 01 (một) gói Heroine với giá 100.000đ (một trăm nghìn) được gói bằng giấy nilon màu xanh. Mua được Heroine, bị cáo T đi về nhà, còn người bán Heroine đi đâu thì bị cáo không biết. Đến 09 giờ ngày 13/4/2018 bị cáo lấy gói heroine mua được vào ngày 12/4/2018 ra, cấu một ít để sử dụng và chia gói heroine thành 02 (hai) phần gói bằng giấy nilon màu xanh rồi cho vào túi quần bên trái đang mặc nhằm mục đích sử dụng dần. Đến 10 giờ cùng ngày bị cáo bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Ngày 13/4/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định, xác định 02 (hai) gói heroine thu của bị cáo có khối lượng 0,14 gam, trích lấy 0,06 gam làm mẫu vật gửi giám định và niêm phong 0,08 gam còn lại.
Tại bản kết luận giám định số 431/GĐ - PC54 ngày 30/4/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của bị cáo Lò Văn Thiến là chất ma túy: loại Heroine; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/ NĐ - CP ngày 19/7/2013.
Bản cáo trạng số 46/CT-VKS-TG ngày 06/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù, không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên hủy 01 gói heroine được niêm phong có khối lượng còn lại là 0,08 gam heroine; trả cho bị cáo 50.000đ.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi tố tụng: Các Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng qui định của pháp luật tố tụng thể thể hiện được tính chính xác, khách quan của vụ án. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
Nội dung vụ án: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang của tổ công tác cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 13/4/2018 thể hiện: Trong khi thực hiện nhiệm vụ tại bản M, xã Q, huyện T, tỉnh Đ đã phát phát hiện bắt giữ Lò Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của Lò Văn T 02 gói Heroine, thu tại túi quần bên trái đang mặc của Lò Văn T. Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng lập ngày 13/4/2018 xác định khối lượng 02 gói chất bột màu trắng đục nghi Heroine có khối lượng là 0,14 gam. Kết quả giám định được kết luận là chất ma túy, loại Heroine.
Các trình tự thủ tục trên được tiến hành đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự và thể hiện tính chính xác, khách quan của vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và bị bắt quả tang như đã khai nhận tại giai đoạn điều tra. Bị cáo khai mục đích tàng trữ Heroine là để sử dụng vì bản thân nghiện ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và giai đoạn điều tra hoàn toàn phù hợp nhau, phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng vật chứng; bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận vào hồi 10 giờ, ngày 13/4/2018 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,14 gam heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ 0,14 gam heroine của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy VKSND huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm sự độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, ảnh hưởng đến sự phát triển nòi giống dân tộc nên cần xử lý nghiêm minh.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo thấy rằng: Bản thân bị cáo phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo. Bị cáo có bố là Lò Văn D có thành tích xuất sắc được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xong xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bản thân nghiện ma túy nên được coi là nhân thân xấu. Hơn nữa, ma túy loại tội phạm gây hậu quả nặng nề, gây bức xúc trong xã hội nên cần áp dụng hình phạt tù giam để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung với mức hình phạt như đề nghị của VKS đề nghị là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có điều kiện kinh tế nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: 01 gói niêm phong Heroine có khối lượng 0,08 gam, 03 (ba) mảnh nilon màu xanh là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 BLTTHS năm 2015 tuyên tịch thu để hủy. Số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) đã làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Các vấn đề khác: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa không làm rõ được người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên HĐXX không có căn cứ xem xét xử lý.
Về án phí: Bị cáo sinh sống ở bản M, xã Q, huyện T, tỉnh Đ là xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH;
1. Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 12 ( mười hai) tháng tù, được trừ 02 (hai) ngày đã tạm giữ, thời gian còn phải chấp hành tiếp là 11 (mười một) tháng 28 (hai mươi tám) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Vật chứng: Tuyên tịch thu để hủy 01 (một) gói được niêm phong có trọng lượng 0,08 gam Heroine, 03 (ba) mảnh nilon màu xanh. Trả lại cho bị cáo 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Đặc điểm vật chứng nói trên được ghi theo phiếu nhập kho vật chứng số PNKVC63 ngày 25/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.
4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/6/2018).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Công an huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thương |