- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy (Võ Văn H) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Võ Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2018/HS-PT. Ngày 20-11-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lê Thanh Vũ.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Ngô.
Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thích-Kiểm sát viên.
Trong ngày 20-11-2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 65/2018/TLPT-HS ngày 01-11-2018 đối với bị cáo Võ Văn H do có kháng cáo của bị cáo H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2018/HS-ST ngày 26-9-2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Bị cáo có kháng cáo: Võ Văn H; Sinh năm: 1983; Nơi sinh: Huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn K và bà Lê Thị N; Có vợ là bà Đinh Thị Yến P, sinh năm 1988 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền sự: 01 lần vào ngày 04-6-2018 bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi mua tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có; Tiền án: Không có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29-6-2018 và chuyển sang tạm giam đến ngày 11-7-2018 được gia đình bảo lĩnh cho đến nay. (có mặt)
Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Yến P; Người làm chứng ông Lê Thanh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc khoảng 20 giờ ngày 28-6-2018, lực lượng Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng phát hiện Võ Văn H điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát X chạy trên tỉnh lộ 940 đoạn đường thuộc ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện H cất giấu trong túi quần jean phía trước bên phải mặc trên người một vỏ gói thuốc lá HERO chứa ba bịch ny lon màu trắng trong suốt được hàn kín có số đo mỗi bịch là (2,5 x 0,5)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi là chất ma túy nên tổ chức niêm phong phục vụ công tác giám định và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H.
Tại Bản kết luận giám định số 36/GĐMT-PC54 ngày 02-7-2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự-Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,123gam, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19-7-2013 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, Võ Văn H khai nhận là người nghiện ma túy, thường sử dụng loại ma túy đá (Methamphetamine). Ba bịch nylon bên trong có tinh thể màu trắng bị lực lượng Công an huyện M thu giữ trên người H vào ngày 28-6-2018 là ma túy đá (Methamphetamine) của H mua của một người nam thanh niên không rõ lai lịch vào chiều tối ngày 27-6-2018 tại khu vực thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng với số tiền 700.000 đồng để sử dụng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2018/HS-ST ngày 26-9-2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Võ Văn H; Điểm a, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Võ Văn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 29-6-2018 đến ngày 11-7-2018.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
Đến ngày 10-10-2018, bị cáo Võ Văn H kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo H giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Văn H lập ngày 10-10-2018 và nộp cho Tòa án nhân dân huyện M vào ngày 10-10-2018 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo Võ Văn H về việc xin được hưởng án treo.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn H như sau: Bị cáo H khai nhận bị cáo là người nghiện ma túy, thường sử dụng loại ma túy đá (Methamphetamine), ba bịch nylon bên trong có tinh thể màu trắng bị lực lượng Công an huyện M thu giữ trên người bị cáo vào ngày 28-6-2018 là ma túy đá (Methamphetamine) của bị cáo mua của một người nam thanh niên không rõ lai lịch để sử dụng. Theo Bản kết luận giám định số 36/GĐMT-PC54 ngày 02-7-2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự-Công an tỉnh Sóc Trăng thì mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,123gam, loại Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19-7-2013 của Chính phủ. Xét lời thừa nhận của bị cáo H tại phiên tòa là phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Võ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo H: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét, xác định về nhân thân của bị cáo H có 01 tiền sự về hành vi mua tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H là bị cáo thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Từ đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo H 02 năm tù là có căn cứ và đúng pháp luật. Xét bị cáo H là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi mua tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có và chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo H.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Võ Văn H chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Võ Văn H.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Võ Văn H.
Xử phạt bị cáo Võ Văn H 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29-6-2018 đến ngày 11-7-2018.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Võ Văn H chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4. Các phần khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - TAND huyện M; - VKSND huyện M; - CQĐT-Công an huyện M; - CQTHAHS-Công an huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - Bị cáo; - PKTNV-THA-TAND tỉnh Sóc Trăng; - CQTHAHS- -Công an tỉnh Sóc Trăng; - Sơ Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Lưu (HSVA & THS). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Lê Thanh Vũ |