vanban.org

Bản án 65/2018/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 21/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Diễm T.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Hòa P phải trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Diễm T số tiền còn nợ tổng cộng là 52.000.000 đồng (Năm mươi hai triệu đồng), không yêu cầu tính lãi suất. Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền trên thì còn phải chịu tiền lãi th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm Thị Diễm T - Nguyễn Thị Hoài P "Vay tài sản""
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Diễm T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2018/DS-ST
Ngày: 21-9-2018
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Trọng Khá và ông Huỳnh Khắc Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Siêng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hữu – Kiểm sát viên.

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2018/TLST-DS ngày 15/6/2018 về tranh chấp“Hợp đồng vay tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/QĐXX-ST ngày 16/8/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Diễm T (tên gọi khác: Tr) sinh năn: 1974;

Địa chỉ: 15/01 C, phường M, thành phố T, Phú Yên.

Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hòa P, sinh năm: 1970;

Địa chỉ: thôn P, phường C, thành phố T, Phú Yên.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Diễm T trình bày:

Do bà Nguyễn Thị Hòa P nói cần tiền xây nhà, làm ăn nên bà có cho bà P vay nhiều lần với số tiền 61.500.000 đồng. Ngày 27/7/2018, bà rút lại yêu cầu đối với khoản nợ 5.000.000 đồng ngày 08/8/2017 (AL). Đến ngày 16/8/2018, bà rút tiếp một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền ngày 18/8/2017 vay 4.500.000 đồng. Như vậy, bà P có vay của bà các khoản sau:

- Ngày 18/7/2017 (AL) vay 5.000.000 đồng.

- Ngày 28/7/2017 (AL) vay 15.000.000 đồng.

- Ngày 15/6/2017 (AL) vay 20.000.000 đồng.

- Ngày 19/3/2018 vay 12.000.000 đồng.

Tổng cộng là 52.000.000 đồng.

Bà đã nhiều lần đòi nhưng đến nay bà P chưa trả cho bà bất cứ khoản nào, nay bà khởi kiện yêu cầu bà P phải trả cho bà số tiền nợ tổng cộng là 52.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ tổng cộng là 52.000.000 đồng. Về án phí: bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo các Giấy mượn tiền do nguyên đơn cung cấp thì bị đơn có vay của nguyên đơn các khoản sau:

- Ngày 18/7/2017 (AL) vay 5.000.000 đồng.

- Ngày 28/7/2017 (AL) vay 15.000.000 đồng.

- Ngày 15/6/2017 (AL) vay 20.000.000 đồng, hẹn đúng 10 ngày trả lại vốn.

- Ngày 19/3/2018 vay 12.000.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng bị đơn vay của nguyên đơn số tiền là 52.000.000 đồng. Từ đó đến nay, nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu nhưng bị đơn không trả cho nguyên đơn bất cứ khoản nào và cố tình trốn tránh là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại số tiền đã mượn theo các giấy vay trên, không yêu cầu tính lãi suất là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ tổng cộng là 52.000.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Diễm T.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Hòa P phải trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Diễm T số tiền còn nợ tổng cộng là 52.000.000 đồng (Năm mươi hai triệu đồng), không yêu cầu tính lãi suất.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền trên thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hòa P phải chịu 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Diễm T 1.537.500 đồng (Một triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0010124 ngày 15/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ