- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 65/2017/HSST Ngày: 23- 8- 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Trần Quang Đương
2- Bà Vũ Thị Ngân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Đình Anh- Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh
Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2017/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2017, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/HSST- QĐXX ngày 11 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu V, sinh năm 1985 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú:
Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; bố đẻ: Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1956; mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; vợ: Lưu Thị H, sinh năm 1985, con: có 01 con sinh năm 2015; tiền sự, tiền án: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 24/6/2017 đến ngày 27/6/2017 chuyển tạm giam cho đến nay.
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Quỳnh Phụ.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 23/6/2017 tại khu vực tổ 08, thị trấn Q, huyện Q,
tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an huyện Quỳnh Phụ đã phát hiện Nguyễn Hữu V đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, BKS 17B5- XXX.XX có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hoạt động tội phạm về ma tuý nên đã yêu cầu V về trụ sở Công an thị trấn Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Phụ để điều tra làm rõ. Tại đây, trước sự chứng kiến của người làm chứng, tiến hành kiểm tra thu tại túi quần sau bên phải đang mặc của V 01 gói nhỏ, bên ngoài gói bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Kiểm tra xe mô tô V điều khiển không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì. Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong và quản lý vật chứng, phương tiện.
Nguyễn Hữu V khai nhận: Do nghiện ma tuý nên khoảng 21 giờ 15 phút ngày
23/6/2017, Nguyễn Hữu V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision, BKS 17B5-XXX.XX từ nhà ra bến xe khách thị trấn Q, huyện Q mục đích để mua ma tuý sử dụng. Khi đến bến xe khách, V gặp và mua của một nam thanh niên tên là T khoảng 26 tuổi (không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ ở đâu) số tiền 100.000 đồng được 01 gói ma tuý rồi cất giấu gói ma tuý vào túi quần sau bên phải đang mặc, sau đó điều khiển xe mô tô đi đến 08, thị trấn Q Côi, huyện Q để tìm chỗ sử dụng thì bị công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng, phương tiện.
Kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận:
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Hữu V là ma tuý, loại Hêrôin, có trọng lượng 0,3649 gam.
Bản cáo trạng số 66/KSĐT ngày 07 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Hữu V. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; các Điều 33, 45 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu huỷ
vật chứng gồm 01 phong bì niêm phong có chứa chất ma tuý hoàn lại sau giám định
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép
chất ma tuý và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh phụ,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Nguyễn Hữu V đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào thời điểm
khoảng 21 giờ 15 phút ngày 23/6/2017 và bị bắt quả tang với số lượng 01 gói ma tuý là Hêrôin có trọng lượng 0,3649 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và được chứng minh bằng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Quỳnh Phụ lập ngày 23/6/2017, biên bản niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 275/KLGĐ-PC54 ngày 24/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; lời khai của người làm chứng và toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, bị cáo Nguyễn Hữu V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội
phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét
xử thấy rằng:
Hành vi tàng trữ phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm
phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại lao vào con đường phạm tội, đã tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Chính vì vậy, cần lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Bị cáo
không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng; được tặng thưởng nhiều huân chương chiến sỹ vẻ vang, huân chương kháng chiến, do đó bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Đánh giá việc áp dụng hình phạt đối với bị cáo, thấy: Theo quy định tại khoản 1 Điều
194 của Bộ luật hình sự năm 1999, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, thì cần áp dụng theo khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo, cho bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy
định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản . Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma tuý bị cáo có, do không xác định được người đã bán ma túy
cho bị cáo nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 gói Hêrôin có trọng lượng 0,3649
gam, sau khi giám định, cơ quan giám định đã hoàn mẫu vật giám định trong 01 phong bì niêm phong ghi số 275/KLGĐ-PC54 ngày 24/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, cần tịch thu để tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vision, BKS 17B5- XXX.XX, kết quả điều tra
xác định chiếc xe trên là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Lưu Thị H (vợ bị cáo V). Chị H không biết và không có liên quan gì đến việc bị cáo V sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua ma tuý vào ngày 23/6/2017. Do đó, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho chị H là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 45, 33
của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2017.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên tịch thu để tiêu huỷ vật chứng là Hêrôin đã thu giữ được niêm phong trong
01 phong bì hoàn mẫu vật ghi số 275/KLGĐ- PC54 ngày 24/6/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình gồm: 0,3360 gam mẫu gửi giám định và bao gói.
Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái
Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 07/8/2017
- Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều
21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án
Bị cáo Nguyễn Hữu V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí
hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ
ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện Quỳnh Phụ;
- Công an huyện Quỳnh Phụ;
- Lưu HSVA.
Nguyễn Thế Hùng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện Quỳnh Phụ;
- Công an huyện Quỳnh Phụ;
- Những người TGTT khác;
- Lưu HSVA.
Nguyễn Thế Hùng
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - Công an huyện Quỳnh Phụ; - Những người TGTT khác; - Lưu HSVA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội : Về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 Thuộc tính văn bản Số/Ký hiệu 41/2017/QH14 Ngày ban hành 20/06/2017 Ngày có hiệu lực 20/06/2017 Người ký Nguyễn Thị Kim Ngân Về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Hùng Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều |