- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L_Vi phạm giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 649/2026/HS-PT Ngày: 17 - 8 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Thẩm phán: 1. Bà Phạm Uyên Thy
2. Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 535/2026/TLPT-HS ngày 01 tháng 07 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Văn L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2026/HS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn L; sinh ngày 02/02/1982, tại tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh); Nơi thường trú: Ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh); Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị P; Có vợ Huỳnh Thị T và 01 con sinh năm 2019 (nhận con nuôi); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L: Ông Hoàng Huy C là Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H – Có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị, nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ ngày 09/6/2025, Nguyễn Văn L điều khiển xe ô tô biển số 62A-360.02 lưu thông trên đường T theo hướng từ Tỉnh lộ 10 về hướng đường P. Khi đến trước số nhà C, Tỉnh lộ 7, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh), L điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 59Y2-462.09 do bà Nguyễn Thị T1 điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều và chuyển hướng rẽ trái qua đường, (đã sang đến phần đường lưu thông ở chiều ngược lại). Hậu quả, bà Nguyễn Thị T1 bị chấn thương sọ não, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau đó tử vong. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 7887-25/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị T1 là do chấn thương sọ não; trong máu không tìm thấy cồn, ma túy; có tìm thấy A và C1. Tại Bản kết luận giám định số 1886/KL-KTHS ngày 11/8/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video cần giám định; đồng thời trích xuất các hình ảnh đại diện thể hiện diễn biến vụ va chạm giao thông. Tại Bản kết luận giám định số 3280/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định dấu vết trên xe ô tô biển số 62A-360.02 và xe mô tô biển số 59Y2-462.09 phù hợp với cơ chế va chạm giữa hai phương tiện. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện nằm trên phần đường bên trái Tỉnh lộ 7 theo hướng từ Tỉnh lộ 10 về đường P. Khi xảy ra tai nạn, xe ô tô biển số 62A-360.02 chuyển động theo hướng từ Tỉnh lộ 10 về Phan Văn K, xe mô tô biển số 59Y2-462.09 chuyển động phía trước cùng chiều và đang rẽ trái. Kết luận giám định không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô và xe mô tô khi xảy ra tai nạn. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2026/HS-ST ngày 20/5/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/5/2026, bị cáo Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. * Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo xuất trình thêm các tài liệu chứng cứ mới, thể hiện bị cáo nhận con nuôi sinh năm 2019 và hiện nay có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính (có xác nhận của chính quyền địa phương). Bị cáo không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 năm 06 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có bổ sung một số tài liệu, chứng cứ mới; tuy nhiên mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2026/HS-ST ngày 20/5/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L trình bày: Không tranh luận về tội danh, khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết sau: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, trong lúc đang chở người nhà đi bệnh viện cấp cứ; Bị hại cũng có một phần lỗi khi đang chạy thẳng bất ngờ chuyển hướng nên bị cáo không kịp xử lý. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải và đã bồi thường cho gia đình bị hại 200.000.000 đồng, được gia đình bị hại làm đơn xin bãi nại; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính, đang nuôi con nhỏ và chăm sóc mẹ già. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm các tài liệu như bị cáo nhận con nuôi theo sự vận động của chính quyền, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính và gia đình bị cáo có nhiều người như cậu, ông, bác và anh có công với nước được tặng thưởng huân Huy chương kháng chiến. Đề nghị Hội đồng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo Nguyễn Văn L được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo được ở ngoài chăm sóc gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu đối đáp tranh luận:
Do Luật sư bào chữa cho bị cáo cũng thống nhất với tội danh và khung hình phạt như bản án sơ thẩm đã xét xử, nên không có ý kiến gì khác. Đối với các tình tiết giảm nhẹ bị cáo mới xuất trình tại phiên tòa làm căn cứ xin hưởng án treo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, nếu có căn cứ thì chấp nhận theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L làm trong hạn luật định, nên được giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các kết luận giám định, kết quả khám nghiệm, dữ liệu hình ảnh và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, qua đó đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 07 giờ ngày 09/6/2025, Nguyễn Văn L điều khiển xe ô tô biển số 62A-360.02 lưu thông trên đường T theo hướng từ Tỉnh lộ 10 về hướng đường P. Khi đến trước số nhà C, Tỉnh lộ 7, ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh, L điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái thì xảy ra va chạm với xe mô tô do bà Nguyễn Thị T1 điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều và chuyển hướng rẽ trái qua đường, dẫn đến bà T1 bị tử vong do chấn thương sọ não. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ và gây hậu quả làm chết người.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn L, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Mặc dù bị cáo phạm tội do vô ý nhưng hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là làm chết một người. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, qua đó tuyên phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm bị cáo nộp bổ sung các tình tiết giảm nhẹ mới thể hiện bị cáo nhận con nuôi theo sự vận động của địa phương; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính (có xác nhận của chính quyền địa phương) và gia đình bị cáo có nhiều người có công với nước. Nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn L. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Lập luận nêu trên cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận và không chấp nhận quan điểm, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí, Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn L.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2026/HS-ST ngày 20/5/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú, xã M, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2026/HS-ST ngày 20/5/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo Nguyễn Văn L)
| Nơi nhận: - TANDTC; - VKSND TP.HCM; (3) - P.PV06 - CA TP.HCM; (1) - TAND Khu vực 8; (1) - VKSND Khu vực 8; (1) - THADS Khu vực 8; (1) - Bị cáo; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu Tòa Hình sự, hồ sơ (25). (8) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM (1) THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |