- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn T N L đối với ông Nguyễn T T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 648/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/5/2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Việt Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Khanh;
2. Bà Bùi Diệu Huệ.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Lê Thị Kim Cương – Là thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thu Thương Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số số 1042/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Nguyễn T N L, sinh năm: 19tt; (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: số ee đường B, phường A, quận B, Thành phố H
2. Bị đơn: ông Nguyễn T T, sinh năm: 19nn; (vắng mặt)
Địa chỉ: số ee đường B, phường A, quận B, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn của bà Nguyễn T N L và bản tự khai của đương sự tại Tòa án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Nguyên đơn bà Nguyễn T N L trình bày: bà và ông Nguyễn T T chung sống với nhau từ năm 2018, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số ff, cấp ngày gg/hh/jj của Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố H.
Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai bên không còn tình cảm, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hai bên sống ly thân từ tháng 02/2022 đến nay và không hàn gắn tình cảm được. Do đó, bà Nguyễn T N L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn T T.
- Về con chung: có 01 con chung tên N N P T, sinh ngày 12/02/2019, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, tùy ông T muốn cấp dưỡng cho con thì tùy khả năng ông T.
- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự khác: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Tòa án, bà Nguyễn T N L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn T T. Về con chung: có 01 con chung tên N N P T sinh ngày 12/02/2019, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, tùy ông T muốn cấp dưỡng cho con thì tùy khả năng ông T. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự khác: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn T T: vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa:
- Bà Nguyễn T N L có đơn xin giải quyết vắng mặt, ông Nguyễn T T vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, phát biểu ý kiến và kết luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về thẩm quyền, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn T N L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và công bố các yêu cầu và tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Nguyễn T N L và ông Nguyễn T T có đăng ký kết hôn, bà L có yêu cầu xin ly hôn với ông T nên đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn là ông Nguyễn T T có địa chỉ cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật; nên căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số ee, cấp ngày ss/ff/hh của Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố H xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn T N L và ông Nguyễn T T là hợp pháp.
Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống vợ chồng giữa bà L và ông T trong quá trình chung sống phải tạo dựng hạnh phúc, phải biết thương yêu, chăm sóc, tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, phải chung thủy và cùng nhau nuôi dạy con cái, cùng làm kinh tế gia đình để ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, hai ông bà không thực hiện những điều cơ bản đó mà không tin tưởng lẫn nhau, mâu thuẫn về cách sống, không có tiếng nói chung, không cùng làm kinh tế gia đình; đã ly thân từ năm 2022 mà không có phương án hàn gắn. Mặc dù, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn (ông T) nhưng vẫn vắng mặt không có ý kiến để hòa giải hàn gắn. Do đó, mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng nên đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà L được ly hôn với ông T.
- Về con chung: có 01 con chung tên N N P T, sinh ngày 12/02/2019. Bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ T. Xét thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là trách nhiệm của cả cha và mẹ. Trẻ T đã và đang chung sống với bà L, do đó không nên làm xáo trộn cuộc sống của trẻ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao trẻ N N P T, sinh ngày 12/02/2019 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: bà L không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự khác: bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông T không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đúng quy định pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn T N L phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn T N L đối với ông Nguyễn T T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 91, cấp ngày 14/11/2018 của Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố H cấp cho bà Nguyễn T N L và ông Nguyễn T T không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: có 01 con chung tên N N P T, sinh ngày 12/02/2019.
Giao con chung tên N N P T, sinh ngày 12/02/2019 cho bà Nguyễn T N L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: bà L không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, cha mẹ đều có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp do yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con
3. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự khác: bà Nguyễn T N L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Nguyễn T T không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn T N L phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà L đã nộp theo biên lai thu số 0034432 ngày 28/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền và thời hạn kháng cáo, kháng nghị: bà Nguyễn T N L và ông Nguyễn T T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án. Viện Kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Bình Tân; - TAND TP.HCM; - Chi cục THADS quận Bình Tân; - Các đương sự; - Nơi đăng ký kết hôn; - Lưu văn thư, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Hải |