- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 644/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 5 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G - THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Mai Lan.
2. Ông Nguyễn Văn Soan.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân - Thư ký Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố H tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1649/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 144/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1987; trú tại: Số D Đường số G, Phường C, quận G, Thành phố H. (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số B Đường số F, Phường G (nay là Phường A), quận G, Thành phố H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Minh T tự nguyện quen biết, tìm hiểu và yêu thương nhau đến tháng 02 năm 2022 thì tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường C, quận G, Thành phố H cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 18 tháng 02 năm 2022. Bà và ông T chung sống hạnh phúc cho đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp dẫn đến cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Bà và ông T đã nhiều lần hàn gắn nhưng không đạt kết quả, không giải quyết được mâu thuẫn. Bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh T.
Về con chung: Quá trình chung sống không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho ông Nguyễn Minh T và giấy triệu tập ông T đến Tòa án để ghi nhận ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông T vắng mặt. Tòa án tiến hành tống đạt Thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T nhưng ông T không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và cũng không có ý kiến về các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Minh T. Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Bị đơn ông Nguyễn Minh T vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, do bị đơn vắng mặt không tham gia phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G, Thành phố H tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và 71, bị đơn thực hiện không đúng Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa cho thấy, bà H và ông T đã phát sinh mâu thuẫn mà không thể giải quyết, hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H. Cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết H được ly hôn với ông Nguyễn Minh T; Về con chung: Bà H và ông T không có con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên không xem xét.
Về án phí sơ thẩm thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Toà án nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Tuyết H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Minh T, đây là quan hệ: “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn cư trú tại quận G, Thành phố H. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H.
Về thủ tục tố tụng:
Ông Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông T.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28 do Ủy ban nhân dân Phường C, quận G, Thành phố H cấp ngày 18 tháng 02 năm 2022, xác định hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Nguyễn Minh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Tuyết H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Bà H trình bày giữa bà và ông Nguyễn Minh T bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc. Bà H và ông T đã nhiều lần hàn gắn để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về phía ông T, Tòa án đã triệu tập ông T tham gia các phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà H và ông T hàn gắn đoàn tụ nhưng ông T vẫn không có mặt thể hiện ông T không có thiện chí giải quyết những mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà H.
Về con chung: Bà H và ông T không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. [4] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội Đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết H được ly hôn với ông Nguyễn Minh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 28 giữa bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Nguyễn Minh T do Ủy ban nhân dân Phường C, quận G, Thành phố H cấp ngày 18 tháng 02 năm 2022 hết hiệu lực).
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Nguyễn Minh T không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
2. Án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Thị Tuyết H phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0057017 ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận G, Thành phố H. Bà H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Tuyết H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Minh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND quận G, TP . HCM; - Chi cục THADS Q. Gò Vấp, TP . HCM; - UBND Phường 3, Q. Gò Vấp, TP . HCM; - Đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Thị Mộng Tuyền |