vanban.org

Bản án 643/2025/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 23/12/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim P, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Vĩnh Long.

p dụng các Điều 158, khoản 2 Điều 165 B luật Dân sự năm 2015. p dụng các Điều 26, 31 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phan Văn D - Nguyễn Thị Kim P"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim P, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Luật Tư pháp ngư i; Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 643/2025/DS-PT
Ngày: 23-12-2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạt

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Đức

Ông Nguyễn Thế Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Định - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 477/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 589/2025/QĐXXPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 353/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phan Văn D, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số B ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là Số B ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long). (có mặt)

Ng i o v quy n v l i ch h p pháp cho nguyên đơn Phan Văn D: Ông Trần Nhật Long H - Luật sư Văn phòng L thu c Đoàn Luật sư tỉnh V. (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là Số A ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long). (có mặt)

Ng i đ i di n theo ủy quy n của ị đơn Nguyễn Thị Kim P: Bà Lê Thị Thanh N, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số B ấp M, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là Số B ấp M, xã H, tỉnh Vĩnh Long). (có yêu cầu xét xử vắng mặt)

Ng i o v quy n v l i ch h p pháp của ị đơn Nguyễn Thị Kim P: Ông Lê Hữu P1 – Luật sư Công ty L1 thu c Đoàn luật sư tỉnh V. (có mặt)

. Ng i c quy n l i ngh a v liên quan:

3.1. Bà Tống Thị P2, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số B ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là Số B ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long).

Ng i đ i di n theo ủy quy n của Tống Thị P2: Ông Phan Văn D, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số B ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là Số B ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long). (có mặt)

3.2. Ông Dương Văn N1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là Số A ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long).

Ng i đ i di n theo ủy quy n của ng D ơng Văn N1: Bà Lê Thị Thanh N, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số B ấp M, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là Số B ấp M, xã H, tỉnh Vĩnh Long). (có yêu cầu xét xử vắng mặt)

4. Ngư i kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim P, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung n án sơ thẩm;

Theo nội dung đơn h i i n đơn h i i n s a đ i sung các l i hai trong quá trong quá trình tố t ng v t i phiên tòa nguyên đơn ng Phan Văn D trình bày:

Ông D là chủ sử dụng đất phần đất thu c thửa đất số 257, t bản đồ số 33, diện tích 8203,4m2 đất t a lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long), ông đư c Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 18/7/2011 (số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BĐ 786370, số vào số cấp CN: CH00258), phần đất này đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 1996. Nguồn gốc đất là của cha ông là Phan Văn H1 (đã chết) và m ông là bà Đoàn Thị D1 (đã chết) tặng cho cá nhân ông cách nay khoảng trên 40 năm và m t phần ông đư c Lâm Trư ng cấp. T khi đư c cấp đất, ông canh tác sử dụng n định, trư c đây ông sử dụng làm đất ao, hiện nay ông đã san lấp mặt b ng m t phần và m t phần là đất ao. Thực hiện chủ trương của nhà nư c th hiện nay thửa đất số 257, t bản đồ số 33, diện tích 8203,4m2 nêu trên của ông đư c chia tách thành các thửa đất gồm: thửa 257, diện tích 3735,5m2; thửa 290, diện tích 3036,9m2 và thửa 405, diện tích 1430,9m2 c ng t bản đồ số 33, đất t a lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long), ông chưa đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i 03 thửa đất kể trên do chưa nghe thông báo cấp giấy của cơ quan có thẩm quyền. Sau đó, giữa ông v i bà Nguyễn Thị Kim P phát sinh tranh chấp. Hiện tại ông v n còn giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 257, t bản đồ số 33 đư c cấp cho ông.

Liền kề các thửa đất 257, 290 và 405 c ng t bản đồ số 33 của ông D là các thửa đất số 23, 154 và 222 c ng t bản đồ số 32, đất t a lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long) của bà Nguyễn Thị Kim P. Do đất của ông và đất của bà P liền kề nhau nên trong quá tr nh sử dụng đất th bà P c ng chồng là ông Dương Văn N1 đã lấn chiếm sang phần đất của ông và sử dụng đất của ông t lâu, việc này ông biết nhưng do ông đang nuôi tôm công nghiệp nên ông muốn tự thương lư ng v i bà P nhưng bà P không đồng ý. Sau này, ông có yêu cầu cơ quan địa chính tiến hành đo đạc lại thửa đất 257, t bản đồ số 33 của ông, lúc này ông thống nhất v i ranh đất của ông v i đất của bà P như cơ quan địa chính đã xác định nhưng bà P và ông N1 không đồng ý. Ông đã nhiều lần yêu cầu bà P và ông N1 giao trả đất cho ông nhưng bà P và ông N1 không thực hiện. Sự việc này ông có yêu cầu chính quyền địa phương tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Trư c đây, bà P có làm đơn khởi kiện ông liên quan đến thửa đất mà ông đang tranh chấp, khi đó cơ quan chuyên môn đã tiến hành đo đạc phần đất tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện của bà P, nhưng sau đó bà P rút đơn khởi kiện, đến nay ông là ngư i khởi kiện. Trư c đây, bà P khởi kiện ông đối v i diện tích là 765,7m2, tuy nhiên nay bà P lại tự xác định phần đất tranh chấp v i ông diện tích là 787,9m2 nhiều hơn so v i yêu cầu khởi kiện trư c đây của bà P.

Bà P không giữ nguyên hiện trạng đất và ngang nhiên trồng cây củ sắn trên phần đất tranh chấp trong lúc Tòa án đang giải quyết vụ án.

Ông đồng ý v i kết quả đo đạc, kết quả định giá, kết quả xem xét thẩm định tại ch .

Hiện nay, các thửa đất tranh chấp ông không có thế chấp, không có cầm cố hay chuyển như ng cho ai.

Về chi phí tố tụng, ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Nay ông D yêu cầu Toà án xem xét giải quyết: bu c bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 có nghĩa vụ di d i cây trồng trên đất và giao trả cho ông phần đất có t ng diện tích 787,9m2, qua đo đạc thực tế gồm các phần đất cụ thể như sau: diện tích 67,4m2 thu c m t phần của thửa 290 (ký hiệu 290a), diện tích 182,8m2 thu c m t phần của thửa 405 (ký hiệu 405a) và diện tích 537,7m2 thu c m t phần của thửa 257 (ký hiệu 257a), c ng t bản đồ số 33, đất t a lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Ông đồng ý cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 đư c sử dụng đất đến khi thu hoạch xong vụ củ sắn đang có trên phần đất tranh chấp.

Trong quá trình tố t ng v t i phiên tòa ị đơn Nguyễn Thị Kim P ủy quy n cho Lê Thị Thanh N trình y:

Vào năm 1993, cha m của bà Nguyễn Thị Kim P có tặng cho bà P thửa đất loại đất nuôi trồng thủy sản, sau đó bà P đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối v i đất số 239, t bản đồ số 6, diện tích 10567 m2 (theo đo đạc 299) do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre cấp ngày 05/9/1996. Đến năm 2010, qua đo đạc m i thu c thửa đất số 23, t bản đồ số 32, diện tích 12952,7m2, loại đất nuôi trồng thủy sản và đư c cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 11/6/2013 do bà Nguyễn Thị Kim P đứng tên quyền sử dụng đất. Phần đất này bà P c ng chồng là ông Dương Văn N1 canh tách sử dụng đất n định cho đến khi phát sinh tranh chấp v i ông Phan Văn D. Đến năm 2017, do các cây trụ ranh bị hư gãy nên bà P v i ông Phan Văn D có thống nhất cấm lại ranh gi i giữa hai bên và sử dụng n định. Đến ngày 22/10/2022, ông D có yêu cầu cán b đo đạc c ng v i địa chính của xã để xác định lại ranh gi i giữa đất của bà P v i đất của ông D, khi đó tại vị trí trụ số 4 (phần giáp ranh giữa đất bà P v i đất ông D và đất ông Mai Văn C) và trụ số 5 (phần giáp ranh giữa đất bà P v i đất ông D – giáp rạch) nhưng tại vị trí trụ số 5 th không thay đ i, riêng trụ số 4 thay đ i, đ i đo đạc định vị về phía đất bà P đang sử dụng cách trụ ranh số 4 bà P đang sử dụng là 3,5 mét v i chiều dài phần đất tranh chấp t trụ số 4 đến trụ số 5 là 170,79 mét, bà P không đồng ý v i xác định của đ i đo đạc nên có đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T hòa giải. Ủy ban nhân dân xã T nhưng không thành do ý kiến của hai bên trái ngư c nhau. Sau đó, bà P có làm đơn tranh chấp v i ông D gửi đến Tòa án giải quyết nhưng do phần đất tranh chấp bà P đang quản lý sử dụng nên không thể yêu cầu ông D trả lại nên bà P rút đơn khởi kiện, hiện nay th ông D là ngư i khởi kiện đối v i bà P.

Bà P đồng ý v i kết quả đo đạc, kết quả định giá, kết quả xem xét thẩm định tại ch .

Hiện trạng phần đất tranh chấp khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định th trên đất không có tài sản g . Tuy nhiên, do phần đất tranh chấp t trư c đến nay th bà P c ng chồng là ông N1 quản lý sử dụng nên khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án th bà P và ông N1 v n canh tác sử dụng đất, hiện nay bà P đang trồng cây củ sắn trên phần đất tranh chấp đến khoảng tháng 9 âm lịch của năm 2025 th s thu hoạch xong. Trư ng h p, Tòa án giải quyết đất tranh chấp thu c về ông D th bà P và ông N1 s tự di d i cây trồng đang có trên đất và không yêu cầu bồi thư ng bất k chi phí g liên quan đến phần đất tranh chấp. Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim P không đồng ý v i toàn b yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn D, bà P không có yêu cầu nguyên đơn bồi hoàn công cải tạo đất trong trư ng h p yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đư c chấp nhận.

Ng i c quy n l i ngh a v liên quan Tống Thị P2 ủy quy n cho ng Phan Văn D trình y:

Bà Tống Thị P2 là v của ông. Bà P2 không có yêu cầu g trong vụ án này.

Ng i c quy n l i ngh a v liên quan ng D ơng Văn N1 ủy quy n cho

Lê Thị Thanh N trình y:

Ông N1 không đồng ý v i toàn b yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông N1 thống nhất v i ý kiến của bà Nguyễn Thị Kim P. Ông N1 không có yêu cầu g khác. Trư ng h p yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đư c Tòa án chấp nhận th ông N1 không có yêu cầu phía nguyên đơn bồi hoàn chi phí cải tạo đất, không có yêu cầu g khác.

Lu t s Trần Nh t Long H l ng i o v quy n v l i ch h p pháp cho nguyên đơn ng Phan Văn D trình y:

Nguồn gốc đất của nguyên đơn đư c cha m cho t năm 1989 và canh tác đến nay, đất của bị đơn đư c cha m cho t năm 1993 và canh tác đến nay.

Về quá tr nh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: ngày 05/9/1996 cấp quyền sử dụng đất cho nguyên đơn nhiều thửa, th i điểm này bị đơn c ng đư c cấp nhiều thửa. Ngày 18/7/2011, nguyên đơn đư c cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhập thành thửa 257 v i diện tích 8203,4m2. Ngày 11/6/2013, bị đơn đư c cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhập t thửa 239 diện tích 10567m2 thành thửa 23. Tại đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận ngày 04/6/2013, bà P đã đư c cấp đ i thửa 239 thành thửa 23 và cấp đ i do 02 lần đo chênh lệch nên t diện tích 10567m2 thành diện tích 12952,7m2. Bà P đồng ý v i việc thay đ i diện tích này, mặt khác việc cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P là đư c cấp sau ông D. Bà P không khiếu nại đối diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D c ng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà P.

Về quá tr nh tách thửa: thửa đất số 257 của ông D đư c cơ quan có thẩm quyền tách thành 03 thửa gồm: thửa 257 diện tích 3735,5m2, thửa 290 diện tích 3036,9m2 và thửa 405 diện tích 1430,9m2, t ng diện tích 03 thửa này là 8203,4m2. Thửa đất số 23 của bà P c ng tách thành 03 thửa gồm: thửa 23 diện tích 8404,8m2, thửa 222 diện tích 2572,5m2 và thửa 154 diện tích 1974,1m2, t ng diện tích 03 thửa là 12952,7m2. Bà P c ng đồng ý và không khiếu nại.

Bà P cung cấp m t số ngư i làm chứng, c ng như Tòa án đã lấy l i khai của những ngư i làm chứng theo yêu cầu của bà P cho thấy, những ngư i này không chứng kiến việc cha m bà P cho đất và chỉ ranh, không biết cụ thể diện tích và vị trí ranh giữa hai bên. H chỉ làm chứng và thấy bà P sử dụng đất, nhưng h không thể biết chính xác bà P sử dụng th i gian nào, vị trí nào và những ngư i làm chứng c ng chỉ m i xác nhận khi đã có tranh chấp.

Căn cứ diện tích đất đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D và bà P th bà P c ng chồng là ông Dương Văn N1 đang sử dụng phần đất của ông D. Đề nghị H i đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D. Do ông D tự nguyện đồng ý cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 đư c sử dụng đất đến khi thu hoạch xong vụ củ sắn hiện tại đang có trên phần đất tranh chấp nên đề nghị ghi nhận. Do bà Nguyễn Thị Kim P không yêu cầu xem xét công cải tạo đất trên phần đất tranh chấp nên đề nghị không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Vĩnh Long đã đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Vĩnh Long đã tuyên:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; các Điều 35; 39, 147, 157, 165, 273 B luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đ i B luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp ngư i chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Luật số 85/2025/QH15 ngày 26/6/2025).

p dụng các Điều 158, khoản 2 Điều 165 B luật Dân sự năm 2015.

p dụng các Điều 26, 31 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2024.

p dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn D đối v i bị đơn bà Nguyễn Thị Kim P và ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn N1.

Bu c bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 có nghĩa vụ di d i cây trồng có trên đất và giao trả cho ông Phan Văn D phần đất có diện tích 787,9m2, qua đo đạc thực tế gồm các phần đất cụ thể như sau: diện tích 67,4m2 thu c m t phần của thửa đất số 290 (ký hiệu 290a), diện tích 182,8m2 thu c m t phần của thửa đất số 405 (ký hiệu 405a) và diện tích 537,7 m2 thu c m t phần của thửa số 257 (ký hiệu 257a) c ng t bản đồ số 33, đất t a lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).

hi nhận sự tự nguyện của ông Phan Văn D về việc ông D đồng ý cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 đư c sử dụng đất đến khi thu hoạch xong cây củ sắn hiện tại đang có trên phần đất tranh chấp.

hi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 về việc bà P và ông N1 s tự di d i cây trồng có trên phần đất tranh chấp.

Có h a đồ thửa đất số 257, 290, 405, t bản đồ số 33, t a lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) ngày 20/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ) k m theo.

Do bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết công cải tạo đất nên H i đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp đương sự đư c quyền khởi kiện trong vụ án khác.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, thi hành bản án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03/9/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim P kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hư ng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của bị đơn đề nghị H i đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hư ng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn D.

Nguyên đơn không đồng ý v i kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của nguyên đơn đề nghị H i đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Những ngư i tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những ngư i tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.

- Về n i dung: Xét thấy kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim P là không có căn cứ, đề nghị H i đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà P, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Vĩnh Long.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã đư c thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim P; H i đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Kim P kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo h p lệ, trong th i hạn luật định nên đư c xem xét giải quyết theo tr nh tự phúc thẩm.

Về n i dung:

Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim P, H i đồng xét xử xét thấy:

Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có t ng diện tích 787,9m2, bao gồm: diện tích 67,4m2 thu c phần của thửa 290 (ký hiệu 290a), diện tích 182,8m2 thu c phần của thửa 405 (ký hiệu 405a) và diện tích 537,7 m2 thu c phần của thửa 257 (ký hiệu 257a) c ng t bản đồ số 33, đất t a lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Phần đất này hiện tại đư c Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 18/7/2011 (số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BĐ 786370, số vào số cấp GCN: CH00258) cho ông Phan Văn D thu c m t phần của thửa đất số 257, t bản đồ số 33, n m trong t ng diện tích đư c cấp 8203,4m2.

Nguyên đơn ông Phan Văn D khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 có nghĩa vụ di d i cây trồng có trên đất và giao trả cho ông D phần đất có t ng diện tích 787,9m2, qua đo đạc thực tế gồm các phần đất cụ thể như sau: diện tích 67,4m2 thu c phần của thửa 290 (ký hiệu 290a), diện tích 182,8m2 thu c phần của thửa 405 (ký hiệu 405a) và diện tích 537,7 m2 thu c phần của thửa 257 (ký hiệu 257a) c ng t bản đồ số 33, đất t a lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Ông D đồng ý cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 đư c sử dụng đất đến khi thu hoạch xong vụ củ sắn hiện tại đang có trên phần đất tranh chấp.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 không đồng ý v i yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn D mà cho r ng đất này là của bị đơn sử dụng n định, lâu dài. Trư ng h p, Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D th bà P và ông N1 s tự nguyện do d i cây trồng có trên phần đất tranh chấp, không yêu cầu giải quyết công cải tạo đất trong vụ án này.

Xét về nguồn gốc và quá tr nh biến đ ng của phần đất tranh chấp: theo tr nh bày của các đương sự và kết quả thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan quản lý đất đai xác định:

Đối v i phần đất của ông Phan Văn D: Ngày 05/9/1996, ông Phan Văn D đư c Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đo đạc 299 các thửa đất như sau: thửa 224 diện tích 7463m2, thửa 236 diện tích 487m2, thửa 237 diện tích 7087m2, thửa 242 diện tích 1370m2, thửa 253 diện tích 300m2 và thửa 254 diện tích 935m2, c ng t bản đồ số 6 v i t ng diện tích là 18785m2. Thực hiện chủ trương đo đạc bản đồ địa chính chính quy, năm 2010 ông D có đơn đề nghị cấp lại, cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến ngày 18/7/2011, ông D đư c Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre cấp đ i thửa đất số 236, 237 c ng t bản đồ số 6 v i t ng diện tích 7574m2 thành thửa 257 t bản đồ số 33 diện tích 8203,4m2. Qua số liệu đo đạc hiện nay th thửa 257, t bản đồ số 33 đư c tách thành các thửa gồm: thửa 257 diện tích 3735,5m2, thửa 290 diện tích 3037m2 và thửa 405 diện tích 1430,9m2 v i t ng diện tích 8203,4m2. Đối v i hồ sơ quy tr nh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất số 236, 237 và 242 (cấp cho ông D vào năm 1996) đã bị thất lạc nhưng theo danh sách đăng ký xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cung cấp cho Toà án thì ông Phan Văn D đăng ký và đư c cấp 18785m2 đất. Xét thủ tục cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D đã thực hiện đúng quy định và việc cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D không có ai khiếu nại hay tranh chấp g .

Đối v i phần đất của bà Nguyễn Thị Kim P: Ngày 05/9/1996, bà Nguyễn Thị Kim P c ng đư c Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đo đạc 299 gồm các thửa đất như sau: thửa 308 diện tích 219m2, thửa 324 diện tích 1250m2, thửa 239 diện tích 10567m2 và thửa 259 diện tích 670m2 c ng t bản đồ 6 v i t ng diện tích 12697m2. Năm 2013, bà Nguyễn Thị Kim P đề nghị cấp đ i thửa đất 239, t bản đồ số 6, diện tích 10567m2 thành thửa đất số 23, t bản đồ số 32, diện tích 12952,7m2, trong đó có tăng diện tích 2.385,7m2 là do chênh lệch giữa 02 lần đo đạc. Qua số liệu đo đạc hiện nay th thửa đất số 23, t bản đồ số 32 đư c tách thành các thửa đất gồm: thửa 23 diện tích 8406m2, thửa 154 diện tích 1974,1m2 và thửa 222 diện tích 2572,5m2 c ng t bản đồ số 32. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P thực hiện đúng quy định. Phần đất bà P đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua các lần tăng lên.

Bị đơn cho r ng, phần đất tranh chấp mà nguyên đơn tranh chấp là của bị đơn đư c bị đơn sử dụng n định, lâu dài, không có ai tranh chấp và cho r ng phần đất tranh chấp đã đư c các bên thống nhất cấm trụ ranh nhưng bị đơn không có chứng cứ chứng minh và tại phiên tòa phía bị đơn th a nhận khi hiệp thương ranh đất giữa hai bên c ng không có lập thành văn bản. Đối v i bản tự khai ngày 10/6/2024 của ông Phan Văn D do bị đơn yêu cầu Tòa án thu thập trong vụ án do bà P khởi kiện ông D trư c đây, theo đó ông D chỉ th a nhận “phần đất tranh chấp bà P sử dụng, nhưng th i điểm trư c đó ông không biết bà P lấn đất của ông, không biết phần đất tranh chấp n m trong phần đất ông đư c cấp vào năm 1996. Sau khi nh địa chính đo lại ông m i biết phần đất bà P sử dụng đư c cấp cho ông, lý do ông không kiện là do ông nuôi tôm công nghiệp nên không muốn xảy ra tranh chấp. Ông xác định phần đất tranh chấp là của ông, nếu có khởi kiện ông s khởi kiện sau”. Đồng th i, c ng không có chứng cứ nào thể hiện ông D đồng ý cấm trụ ranh số 5 như phía bị đơn tr nh bày. Ngày 27/3/2025, Toà án tiến hành xác minh ông Mai Văn C là chủ sử dụng đất v i phần đất giáp ranh v i đất của ông D và bà P, ông C tr nh bày “giữa ông C, ông D và bà P có cấm trụ ranh và trụ ranh v n còn. Tuy nhiên, sau đó ông C thấy có thêm 01 trụ ranh nữa cách trụ ranh của 03 ngư i khoảng 03 mét theo hư ng trụ ranh m i n m trên phần đất của ông D, sau khi có trụ ranh m i th bà P cho r ng trụ ranh m i là ranh đất giữa bà P và ông D, ông D không đồng ý nên phát sinh tranh chấp kéo dài cho đến nay” (bút lục số 280).

Theo hoạ đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp ngày 20/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ) th phần đất tranh chấp n m trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đư c cấp cho ông D.

Việc bị đơn bà P cho r ng phần đất tranh chấp có diện tích 787,9m2 là của bị đơn nhưng bị đơn không cung cấp đư c tài liệu, chứng cứ để chứng minh theo Thông báo giao n p tài liệu, chứng cứ của Tòa án (bút lục số 240). Mặc khác, qua các lần đo đạc phần đất tranh chấp trong vụ án trư c đây bà P khởi kiện ông D và trong vụ án hiện nay, bà P xác định phần đất tranh chấp v i ông D không thống nhất v i nhau. Điều đó, cho thấy bà P c ng không xác định đư c diện tích đất của m nh trên thực tế.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà P có đề nghị H i đồng xét xử xem xét, thẩm định tại ch và đo đạc lại nhưng bà P không có chứng cứ chứng minh cho việc đo đạc của cấp sơ thẩm là không đúng quy định do đó H i đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của bà P.

Việc bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 sử dụng phần đất tranh chấp đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn D đã xâm phạm quyền và l i ích h p pháp của ông D nên yêu cầu khởi kiện của ông D là có căn cứ đư c H i đồng xét xử chấp nhận. Bu c bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 di d i cây trồng có trên đất để giao trả đất theo yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn D. hi nhận sự tự nguyện của ông Phan Văn D về việc ông D đồng ý cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 đư c sử dụng đất đến khi thu hoạch xong cây củ sắn hiện tại đang có trên phần đất tranh chấp. hi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 về việc bà P và ông N1 s tự di d i cây trồng có trên phần đất tranh chấp.

Do bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết công cải tạo đất nên H i đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp đương sự đư c quyền khởi kiện trong vụ án khác.

Về chi phí tố tụng: t ng c ng là 26.043.500 đồng, nguyên đơn ông Phan Văn D đã n p toàn b , do yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn D đư c chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 phải liên đ i n p toàn b chi phí tố tụng. Bu c bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 có nghĩa vụ liên đ i hoàn trả cho ông Phan Văn D số tiền 26.043.500 đồng.

T những phân tích trên, xét kháng cáo của bà P c ng như những l i tr nh bày, tranh luận tại phiên tòa xét thấy yêu cầu kháng cáo của bà P là không có cơ sở nên không đư c chấp nhận. V vậy, giữ nguyên n i dung bản án sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long là ph h p v i nhận định của H i đồng xét xử nên đư c chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do kháng cáo không đư c chấp nhận nên bà P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim P, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Vĩnh Long.

Căn cứ khoản 9 Điều 26; các Điều 35; 39, 147, 157, 165, 273 B luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đ i B luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp ngư i chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Luật số 85/2025/QH15 ngày 26/6/2025).

p dụng các Điều 158, khoản 2 Điều 165 B luật Dân sự năm 2015.

p dụng các Điều 26, 31 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2024.

p dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn D đối v i bị đơn bà Nguyễn Thị Kim P và ngư i có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn N1.

Bu c bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 có nghĩa vụ di d i cây trồng có trên đất và giao trả cho ông Phan Văn D phần đất có diện tích 787,9m2, qua đo đạc thực tế gồm các phần đất cụ thể như sau: diện tích 67,4m2 thu c m t phần của thửa đất số 290 (ký hiệu 290a), diện tích 182,8m2 thu c m t phần của thửa đất số 405 (ký hiệu 405a) và diện tích 537,7 m2 thu c m t phần của thửa số 257 (ký hiệu 257a) c ng t bản đồ số 33, đất t a lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long).

hi nhận sự tự nguyện của ông Phan Văn D về việc ông D đồng ý cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 đư c sử dụng đất đến khi thu hoạch xong cây củ sắn hiện tại đang có trên phần đất tranh chấp.

hi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 về việc bà P và ông N1 s tự di d i cây trồng có trên phần đất tranh chấp.

Có h a đồ thửa đất số 257, 290, 405, t bản đồ số 33, t a lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) ngày 20/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ) k m theo.

Do bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết công cải tạo đất nên H i đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp đương sự đư c quyền khởi kiện trong vụ án khác.

2. Về chi phí tố tụng: bu c bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 có nghĩa vụ liên đ i hoàn trả cho ông Phan Văn D số tiền 26.043.500 đồng (Hai mươi sáu triệu không trăm bốn mươi ba ngh n năm trăm đồng).

3. Về án phí:

3.1. n phí dân sự sơ thẩm: bu c bà Nguyễn Thị Kim P và ông Dương Văn N1 có nghĩa vụ liên đ i n p 300.000 đồng (Ba trăm ngh n đồng).

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mư i lăm) ngày kể t ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

3.2. n phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kim P phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm ngh n) đồng nhưng đư c khấu tr vào số tiền tạm ứng án phí đã n p là 300.000 (ba trăm ngh n) đồng theo biên lai thu số 0002490 ngày 04/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Trư ng h p Bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th ngư i đư c thi hành án, ngư i phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ