vanban.org

Bản án 64 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Đàm Minh Tr. Về con chung: Giao con chung tên Đàm Minh A, sinh ngày 29/4/2020 cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Đàm Minh Tr được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H/Đàm Minh Tr"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản ánsố: 64/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14-4-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quý Hòa;

Bà Nguyễn Thị Bích Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 14/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 26/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/02/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/4/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Thôn K, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Ông Đàm Minh Tr, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn S, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Đàm Minh Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định vào ngày 11/11/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại nhà bố mẹ chồng ở xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Đàm Minh A, sinh ngày 29/4/2020, hiện nay con đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Bà làm nghề chăm sóc Spa (làm đẹp), thu nhập bình quân 7.000.000 đồng/tháng. Mâu thuẫn phát sinh từ cuối năm 2021, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay, hiện nay bà và con đang ở nhà mẹ đẻ tại thôn S, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đàm Minh Tr.

Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi con chung tên Đàm Minh A, sinh ngày 29/4/2020; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 16/3/2023, bị đơn ông Đàm Minh Tr trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định vào ngày 11/11/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại nhà bố mẹ tại xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 01 con chung tên Đàm Minh A, sinh ngày 29/4/2020, hiện nay con đang được bà H nuôi dưỡng ổn định. Mâu thuẫn phát sinh từ cuối năm 2021, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.

Về con chung: Ông đồng ý giao con chung tên Đàm Minh A, sinh ngày 29/4/2020 cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng; ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Minh Tr không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Đàm Minh Tr.

Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Đàm Minh A, sinh ngày 29/4/2020 cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng; ông Đàm Minh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu ly hôn ông Đàm Minh Tr. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Đàm Minh Tr có hộ khẩu thường trú tại xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Minh Tr. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông Tr.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Minh Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định vào ngày 11/11/2019 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Mâu thuẫn phát sinh từ cuối năm 2021, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, tính cách không hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi.

Nay, bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Minh Tr đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ được nên bà H, ông Tr đồng ý ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà H, ông Tr mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ đã không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Minh Tr có 01 con chung tên Đàm Minh A, sinh ngày 29/4/2020. Hiện con đang được bà H nuôi dưỡng ổn định, ông Tr cũng đồng ý giao con cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Nên giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Đàm Minh Tr không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Đàm Minh Tr.

2. Về con chung: Giao con chung tên Đàm Minh A, sinh ngày 29/4/2020 cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Đàm Minh Tr được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0010873, ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ