vanban.org

Bản án 64

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 02 (Hai) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 02 tháng 3 năm 2021. Về thời gian tạm giam: Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Ngô Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 64/2021/HS-ST
Ngày 04-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hoàng.

Bà Nguyễn Thị Rạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2021/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Ngô Văn C, sinh năm 1994; tại Sóc Trăng.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã A3, huyện C, tỉnh S; chỗ ở hiện nay: ấp B 1, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn M (chết) và bà Thạch Thị A, sinh năm 1956; bản thân chưa có vợ; tiền sự: không; tiền án không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/3/2021 cho đến nay, bị cáo có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến:

1. Nguyễn Trung T, sinh năm 1999.

2. Lý Phát M, sinh năm 1999, địa chỉ: Cả hai cùng trú ấp B 2, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L.

3. Dương Thị Bích H, sinh năm 1990, địa chỉ khu vực 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh L. Tất cả xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 02/3/2021, bị cáo Ngô Văn C thuê người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ điều khiển xe mô tô thuê chở bị cáo C đi từ nhà trọ H nơi bị cáo C thuê nhà trọ tại ấp B 1, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đến khu vực gần bến xe Miền Tây thuộc phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo C yêu cầu người đàn ông này đứng bên ngoài đợi bị cáo bị cáo C vào gặp một người phụ nữ tên Y không rõ họ, địa chỉ bị cáo C hỏi mua của Yến 400.000 đồng chất ma túy (dạng đá) để sử dụng. Y đồng ý bán cho bị cáo C 02 gói nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa chất ma túy (dạng đá), sau khi mua được chất ma túy xong, bị cáo C giấu 02 gói nylon chứa chất ma túy vừa mua vào lòng bàn tay trái rồi tiếp tục thuê người đàn ông nói trên điều khiển xe mô tô chở bị cáo C về nhà trọ H. Tại đây, bị cáo C cất giấu 02 gói nylon chất ma túy mua của Y vào túi quần sau bên phải của chiếc quần sọt màu xám, sọc trắng treo trên giá mắc quần áo trong phòng trọ số 01 của bị cáo C và đi đến quán cà phê biển hiệu K tại ấp 2, xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An uống cà phê. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày lực lượng công an xã Đ, huyện Đức Hòa kiểm tra phòng trọ số 01 của bị cáo C thì phát hiện bị cáo C có hành vi cất giấu 02 gói nylon chứa chất ma túy nói trên nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo C.

Tang vật thu giữ gồm 02 túi nylon có hàn kín bên trong có tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy tổng hợp dạng đá, 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy đá; 01 chiếc quần sọt màu xám sọc trắng.

Tại bản kết luận giám định số 195/2021/LKGĐ ngày 10/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận: “tinh thể màu trắng đựng trong hai gói nylon hàn kín niêm phong gữi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4902 gam loại Methamphetamine”.

Kèm theo kết luận giám định: 01 bản ảnh giám định gồm 09 ảnh được lưu tại Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Long An.

Hoàn lại đối tượng giám định có khối lượng 0,3207 gam được niêm phong số 195.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Ngô Văn C phạm tội không có tình tiết tăng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra truy tố bị cáo Ngô Văn C thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác hiện bị cáo C không cung cấp nên không đề cập.

Về vật chứng, hiện chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tạm giữ các vật chứng sau: 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy đá, 01 chiếc quần sọt màu xám sọc trắng, chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,3207 gam được niêm phong hoàn lại sau giám định.

Về trách nhiệm dân sự bị cáo Ngô Văn C không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSĐH ngày 18/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Ngô Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Ngô Văn C gây ra; Đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Ngô Văn C với mức hình phạt tù từ 02 năm cho đến 02 năm 06 tháng tù.

Về tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói chất ma túy Methamphetamine, có trọng lượng 0,4249 gam trả lại sau giám định, tịch thu tiêu hủy 01 cái bình nỏ để sử dụng ma túy đá.

Đối với người đàn ông không rõ họ tên địa chỉ điều khiển xe mô tô chở thuê bị cáo C có hành vi chở bị cáo C đi mua chất ma túy do không xác định được nhân thân của người này chỉ qua lời khai duy nhất của bị cáo C nên không đủ cơ sở để sử lý.

Đối với người phụ nữ có tên Y có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo C tại khu vực phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh do không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, chỉ qua lời khai duy nhất của bị cáo C nên không đủ cơ sở để xử lý.

Tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn C hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, vắng mặt của những người chứng kiến như Nguyễn Trung T, Lý Minh P và Dương Thị Bích H những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Đồng thời, họ đều có đơn xin được xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Lời khai của bị cáo Ngô Văn C tại phiên Tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 3 năm 2021, tại phòng trọ số 01 nhà trọ Hùng Đại Phát, thuộc ấp B 1, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, bị cáo Ngô Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,4902 gam mục đích là để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang người và vật chứng.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Văn C trước Toà phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02/3/2021, bản kết luận giám định số 195/2021/KLGĐ ngày 10/3/2021 của Phòng kỹ thuận hình sự tỉnh Long An, tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng.

Trên cơ sở đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Ngô Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Ngô Văn C về tội danh, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Ngô Văn C là nguy hiểm cho xã hội ở chổ: Bị cáo tàng trữ chất ma túy đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, nguy hiểm cho xã hội nên cần phải nghiêm trị bằng pháp luật hình sự.

Xét về nhân thân: Bị cáo Ngô Văn C có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó khi áp dụng hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần nhưng cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, xét đề nghị Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong hoàn lại sau giám định chất ma túy có khối lượng 0,3207 gam, loại Methamphetamine.

- Tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy đá, 01 chiếc quần sọt màu xám sọc trắng.

Đối với người thanh niên chở bị cáo C đi mua chất ma túy và người nữ tên Y có hành vi bán chất ma túy cho bị cáo C tại bến xe Miền Tây, phường An Lạc A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh những người này do không xác định được nhân thân, lai lịch chỉ có lời khai duy thất của bị cáo C Cơ quan Điều tra tiếp tục truy xét làm rỏ xử lý sau đối với Y.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 02 (Hai) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 02 tháng 3 năm 2021.

2. Về thời gian tạm giam: Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Ngô Văn C 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (04/6/2021) để đảm bảo cho công tác kháng nghị, kháng cáo và thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong hoàn lại sau giám định chất ma túy có khối lượng 0,3207 gam, loại Methamphetamine.

- Tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy đá, 01 chiếc quần sọt màu xám sọc trắng. (Tang vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 88-2021/NK ngày 18 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An)

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Ngô Văn C nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Án này là sơ thẩm bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ