vanban.org

Bản án 64/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 21/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Vàng A C 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 31/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2026/HSST
Ngày 21-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vì Thị Tiến và ông Điêu Chính Xuân.

- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La tham gia phiên toà: Ông Vừ Bả Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Vàng A C, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/01/1980 tại xã P, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản C, xã CM, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Phá L, sinh năm 1934 và bà Lầu Thị S, sinh năm 1937; bị cáo có vợ Chá Thị C, sinh năm 1990 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Sơn La) xử phạt 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31 tháng 12 năm 2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/12/2025 thực hiện cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự Tết nguyên đán năm 2026. Ngày 31/12/2025 Công an xã CM phối hợp với Trạm y tế xã CM tiến hành kiểm tra chất ma túy trong cơ thể đối với Vàng A C, sinh năm 1980, trú tại bản C, xã CM, tỉnh Sơn La. Kết quả thử ma túy Vàng A C dương tính với chất ma túy, nhóm MOP và MET (Heroine và Hồng phiến).

Quá trình mở rộng điều tra, xác định được Vàng A C đang tham gia điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị nghiện Methadone huyện Thuận Châu thuộc Trung tâm y tế Thuận Châu, số thẻ bệnh án 3031000195 và số theo dõi 0220050395, bắt đầu điều trị từ ngày 02/3/2023 và không có thời hạn kết thúc, có giấy tiếp nhận, đơn đăng ký điều trị của Vàng A C và danh sách bệnh nhân đang điều trị Methadone của Trung tâm y tế khu vực Thuận Châu.

Ngày 31/12/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, Trạm y tế xã TC đã tiến hành lấy mẫu giám định chất ma túy trong cơ thể đối với Vàng A C ký hiệu C1 và ra quyết định trưng cầu số D780 Trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy. Tại bản Kết luận giám định số: 182/KL-KTHS ngày 04/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định có chất ma túy; loại chất Morphine, Methamphetamine, Methadone.

Quá trình thực nghiệm điều tra. Kết quả xác định được như sau: Động tác chuẩn bị công cụ để thực hiện sử dụng chất ma túy: Khi đến địa điểm dùng ma túy, C dùng tay phải lấy mảnh nilon màu đỏ bên trong có chất bột cục màu trắng hồng trộn lẫn, chiếc bật lửa gas trong túi quần bên phải đang mặc và mảnh giấy bạc ra cầm giữ ở tay phải, sau đó C ngồi xổm rồi đặt nilon màu đỏ bên trong có chất bột cục mùa trắng hồng trộn lẫn, mảnh giấy bạc, chiếc bật lửa gas xuống đất.

Động tác sử dụng ma túy: C dùng hai tay mở gói ma túy ra và đổ chất bột cục màu trắng hồng lên mảnh giấy bạc, tay trái cầm mảnh giấy bạc đã có chất ma túy lên sát mặt, tay phải cầm bật lửa gas lên sát mảnh giấy bạc và bật lửa lên đốt phía dưới mảnh giấy bạc làm chất bột cục màu trắng hồng cháy và sinh ra khói bốc lên, khi thấy khói bốc lên C cúi mặt xuống gần mảnh giấy bạc và dùng mồm hít hết khói chất ma túy thì dừng lại khoảng 01 đến 02 phút. Sau đó C tiếp tục dùng bật lửa gas màu đỏ đốt mảnh giấy bạc và tiếp tục dùng mồm hít hết khói chất ma túy bốc lên thêm 02 lần thì thôi sử dụng.

Động tác cất công cụ sử dụng ma túy: Sau khi sử dụng ma túy xong, Chính dùng tay trái vứt mảnh nilon màu đỏ, mảnh giấy bạc tại vị trí ngồi sử dụng, tay phải cầm bật lửa gas cất vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc rồi đi ra đường và đi bộ về nhà.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vàng A C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ, ngày 29/12/2025 Vàng A C một mình đi bộ từ nhà tại Bản C, xã CM sang bản M, xã CM, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bản M thì C gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, nhìn giống người nghiện ma túy nên C đã hỏi và mua được 01 gói ma túy, gồm loại Heroine và hồng phiến trộn lẫn được gói bằng mảnh nilon màu đỏ với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Mua được ma túy, C cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà, trên đường về C nhặt lấy mảnh giấy bạc và vào bụi cây ven đường thuộc bản M, xã CM sử dụng hết số ma túy vừa mua được bằng hình thức đốt hít ma túy vào cơ thể, sử dụng ma túy xong, mảnh giấy bạc, mảnh nilon màu đỏ C vứt ở nơi sử dụng, còn bật lửa mang theo về nhà. Ngày 31/12/2025 C lên Trạm y tế xã CM để uống thuốc Methadone thì được tổ công tác Công an xã CM, Trạm y tế xã CM thử ma túy và Chính dương tính với chất ma túy như nêu trên và thu giữ chiếc bật lửa C dùng để sử dụng ma túy.

Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKS-KV2 ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La đã truy tố bị cáo Vàng A C về Tội sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Vàng A C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về Tội sử dụng trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Xử phạt bị cáo Vàng A C từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) 04 (bốn) tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 que test chất ma túy; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A C.

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A C thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo khẳng định lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo thực hiện.

Lời khai của bị cáo phù hợp với: Kết quả kiểm tra chất ma túy ngày 31/12/2025; Kết quả thực nghiệm điều tra; Bản ảnh hiện trường; Biên bản niêm phong; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 182/KL-KTHS ngày 04/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vàng A C đang tham gia điều trị nghiện các chất ma túy dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone, theo bệnh án số bệnh nhân 3031000195; và số theo dõi 0220050395 tại Cơ sơ điều trị Methadone huyện TC thuộc Trung tâm y tế huyện Thuận Châu (nay là Trung tâm y tế khu vực Thuận Châu), bắt đầu điều trị từ ngày 02/3/2023 và không có thời gian kết thúc điều trị. Ngày 29/12/2025 khi đang trong thời gian tham gia điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế thì bị cáo Vàng A C đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, kết quả tìm thấy chất ma túy trong cơ thể của bị cáo Vàng A C theo Kết luận giám định số: 182/KL-KTHS ngày 04/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây tác hại lớn cho sức khỏe và ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy đã được xóa án tích nhưng thuộc trường hợp là người có nhân thân xấu.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức hình phạt phù hợp, tương ứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 que test chất ma túy; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Vàng A C vào ngày 29/12/2025 tại khu vực bản M, xã CM, tỉnh Sơn La do bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đó, ngoài lời khai của bị cáo ra không có nguồn tài liệu chứng cứ khác, do đó cơ quan CSĐT không có cơ sở để điều tra xử lý đối với đối tượng này là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Vàng A C là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A C.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Vàng A C 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 31/12/2025.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 que test chất ma túy; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ.

(Mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng số 55/QĐ-VKS-KV2, ngày 03/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/3/2026 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho cáo Vàng A C.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Vàng A C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ