- Tranh chấp gì? án hình sự — "lê Minh H - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN VIỆT NAM KHU VỰC 4 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2026/HS-ST Ngày: 24-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền
Ông Phạm Văn Hoàng
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phi Hải là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 59/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Minh H, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1997, nơi sinh: tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp G, xã G, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên cha: Lê Hữu H1,sinh năm: 1975 (còn sống); Họ tên mẹ: Võ Thị Thanh L, sinh năm: 1976 (còn sống); Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 05 anh chị em ruột và chưa có vợ con.
Tiền án: không
Tiền sự: + Ngày 04/8/2023, TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định số 20/QĐ-TA ngày 04/8/2023 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng; chấp hành xong ngày 24/10/2024.
Bị cáo Lê Minh H đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2026 tại phân trại tạm giam D.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/10/2025, Công an xã G tiến hành kiểm danh, kiểm diện và mời làm việc đối tượng Lê Minh H, sinh năm: 1997, nơi thường trú: ấp G, xã G, tỉnh Đồng Nai. Qua xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể bằng que test nhanh phát hiện H dương tính với chất ma túy dạng Methamphetamine.
Ngày 29/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ tiến hành giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với vụ việc nêu trên.
Ngày 08/01/2026, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ ra Quyết khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Minh H.
Kết quả điều tra đến nay đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Lê Minh H hiện tại đang là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số: 192/QĐ-UBND ngày 24/10/2024 của UBND xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là UBND xã G, tỉnh Đồng Nai) thời hạn quản lý từ ngày 24/10/2024 đến ngày 24/10/2026 và theo Quyết định số: 03/QĐ-UBND ngày 01/07/2025 của UBND xã G, tỉnh Đồng Nai, thời hạn quản lý từ ngày 01/07/2025 đến ngày 24/10/2026.
Vào ngày 21/10/2025, trong lúc đang đi bốc vác rau tại 01 vườn rau (địa chỉ tại xã T, tỉnh Đồng Nai nhưng không rõ địa chỉ cụ thể) H được 01 nam thanh niên tên “Tí Còi” (không rõ nhân thân, lai lịch, H chỉ biết nam thanh niên này tên Tí C khoảng 30 tuổi, nước da ngâm đen, có cao khoảng 1m65) rủ chơi ma túy cùng. Ban đầu H từ chối nhưng do lên cơn thèm ma túy, H xin “Tí Còi” cho H một ít ma túy để mang về sử dụng, “Tí Còi” đồng ý và cho H một ít ma túy. Sau đó, H mang số ma túy trên về nhà (địa chỉ tại ấp G, xã G, tỉnh Đồng Nai), khi về nhà H không thấy ai ở nhà nên H đã một mình sử dụng hết số ma túy trên.
Ngày 23/10/2025, Công an xã G tiến hành kiểm danh, kiểm diện và mời làm việc đối tượng Lê Minh H, qua xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể bằng que test nhanh phát hiện H dương tính với chất ma túy dạng Methamphetamine. Tại kết luận giám định số 2966/KL – KTHS ngày 31 tháng 3 năm 2025 của phòng K công an tỉnh Đ kết luận: mẫu nước tiểu của Lê Minh H niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine và sản phẩm chuyển hoá của Methamphetamine.
Quá trình làm việc đối tượng Lê Minh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như nêu trên.
Tại Cáo trạng số 53/CT-VKS-TN ngày 24/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Đồng Nai truy tố Lê Minh H về tội “sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Lê Minh H hiện tại đang là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số: 192/QĐ-UBND ngày 24/10/2024 của UBND xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là UBND xã G, tỉnh Đồng Nai) thời hạn quản lý từ ngày 24/10/2024 đến ngày 24/10/2026 và theo Quyết định số: 03/QĐ-UBND ngày 01/07/2025 của UBND xã G, tỉnh Đồng Nai, thời hạn quản lý từ ngày 01/07/2025 đến ngày 24/10/2026.
Tuy nhiên, ngày 21/10/2025, H đã có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” loại Methamphetamine tại nhà.
Như vậy, hành vi của Lê Minh H thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025. Do đó, Cáo trạng số 53/CT-VKS-KV4 ngày 24/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Đồng Nai truy tố bị cáo Lê Minh H về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.
3 Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đồng thời tội phạm mà bị cáo thực hiện còn là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác, gây suy yêu giông nòi, xâm phạm đên an ninh trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đang trong thời gian quản lý giám sát sau cai nghiện nhưng vẫn tái phạm sử dụng ma túy, thể hiện rõ ý thức xem thường pháp luật nên cần xét xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm giáo dục ý thức tôn trọng, tuận theo pháp luật và răn đe, cải tạo bị cáo; giúp bị cáo trở thành công dân tốt, sống và làm việc có ích cho gia đình và xã hội.
4 Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi trái pháp luật của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét khi lượng hình.
5 Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.
Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã cho ma túy cho Lê Minh H: bị cáo khai nhận không biết rõ nhân thân lai lịch của đối tượng này, chỉ biết đối tượng tên "Tí Còi" là nam giới, khoảng 30 tuổi, nước da ngâm đen, có cao khoảng 1m65, ngoài ra không biết thêm thông tin gì. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã tiến hành xác minh, thông báo truy tìm nhưng không xác định được
7 Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
8 Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lê Minh H 02 (hai) năm tù. thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2026.
2. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Minh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND Khu vực 4 – Đồng Nai; - phòng thi hành án hình sự KV 4 – Đồng Nai; - Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Lan |