- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cao Khánh L - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cao Khánh L.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2026/HS-PT Ngày: 29 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Dung
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Đê
Ông Lê Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 53/2026/TLPT-HS ngày 30 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Cao Khánh L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2026/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh Long.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Cao Khánh L, sinh ngày 25/01/1983 tại Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long).
Nơi cư trú: 714 ấp P, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là 714 ấp P, xã L, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Cao Thị Bạch M; chồng Nguyễn Thanh T, bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022691/QĐ-XPHC ngày 08/12/2025, Công an tỉnh V xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi: “Đánh bạc” đối với các lần không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo L là: Luật sư Đinh Thị Bé M1 – Văn phòng L2 thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ.
Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn R không có kháng cáo, không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 18 giờ 10 phút ngày 15/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G (nay là Công an tỉnh V) phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Cao Khánh L có hành vi đánh bạc với hình thức mua, bán lô số đề thắng thua bằng tiền các đài xổ số Miền Nam và Miền B có kết quả mở thưởng ngày 15/12/2024 tại nhà của L ở ấp P, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là ấp P, xã L, tỉnh Vĩnh Long) với nhiều người, cụ thể như sau:
* Đài M:
1. Nguyễn Cao Khánh L sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0359386027 và 0973188282 điện thoại, nhắn tin để bán lô số đề cho Nguyễn Thị Bạch T1, sinh ngày 27/9/1969 qua tin nhắn ứng dụng ZALO có số thuê bao 0778.885.363 và số 0372.020.997: bao lô số 95 đài Đ (tỉ lệ trúng: 01 thắng 70 lần), số tiền 10.000 đồng, thành tiền 10.000 x 18 lô = 180.000 đồng; đầu đuôi số 95 đài Đ, Tiền Giang, Kiên Giang (tỉ lệ trúng: 01 thắng 70 lần) số tiền 10.000 đồng, thành tiền 10.000 x 2 số (số đầu và số đuôi) x 03 đài = 60.000 đồng; bao lô số 69, 96 đài Đ, Tiền Giang, Kiên Giang số tiền 5.000 đồng, thành tiền 5.000 x 02 số x 18 lô x 03 đài = 540.000 đồng. Tổng cộng số tiền T1 mua lô số đề là 180.000 + 60.000 + 540.000 đồng = 780.000 đồng. Kết quả mở thưởng T1 trúng số 95 đài Đ số tiền 10.000 x 70 lần = 700.000 đồng và trúng số 96 đài Đ số tiền 5.000 x 70 lần = 350.000 đồng; tổng cộng T1 trúng lô số đề đài M2 số tiền 700.000 + 350.000 = 1.050.000 đồng. Tổng số tiền T1 dùng đánh bạc là 1.830.000 đồng (tiền mua lô số đề 780.000 đồng + tiền trúng lô số đề 1.050.000 đồng).
2. Tăng Mạnh P, sinh ngày 26/10/1979 mua lô số đề của L qua tin nhắn điện thoại số 0397.396.769: bao lô số 79 đài Đ, Tiền Giang, Kiên Giang số tiền 10.000 đồng, thành tiền 540.000 đồng; bao lô số 779 đài Tiền Giang, Đ (tỉ lệ trúng: 01 thắng 600 lần) số tiền 5.000 đồng, thành tiền: 5.000 x 17 lô x 02 đài = 170.000 đồng. Tổng số tiền mua lô số đề của P là 710.000 đồng. Kết quả mở thưởng, P không trúng lô số đề nên số tiền đánh bạc của P là 710.000 đồng.
3. Nguyễn Văn T2, sinh ngày 10/01/1964 mua lô số đề của L qua tin nhắn điên thoại số 0389.587.751: bao lô số 82 đài Đ, Tiền Giang, Kiên Giang số tiền 4.000 đồng, thành tiền 216.000 đồng; bao lô số 26, 58 đài Đ số tiền 3.000 đồng, thành tiền 108.000 đồng; bao lô số 30, 91 đài Đ, Tiền Giang, Kiên Giang số tiền 3.000 đồng, thành tiền 324.000 đồng. Tổng số tiền mua lô số đề của T2 là 648.000 đồng. Kết quả mở thưởng, T2 trúng số 82 đài Tiền Giang số tiền 280.000 đồng; trúng số 58 đài Đ số tiền 210.000 đồng; trúng số 91 đài Tiền Giang và đài Đ số tiền 630.000 đồng; tổng cộng 1.120.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc của T2 là 1.768.000 đồng (tiền mua lô số đề 648.000 đồng, tiền trúng số đề 1.120.000 đồng).
4. Phan Thị H, sinh ngày 15/7/1968 mua lô số đề của L qua tin nhắn ứng dụng ZALO có số thuê bao 0965.537.377: bao lô số 31, 031 đài Đ số tiền 5.000 đồng, thành tiền 175.000 đồng. Kết quả mở thưởng H trúng số 31 số tiền 350.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc của H là 525.000 đồng (tiền mua lô số đề 175.000 đồng, tiền trúng số đề 350.000 đồng).
5. Nguyễn Văn R mua lô số đề của L qua tin nhắn điện thoại số 0837.473.257: bao lô số 17 đài Tiền Giang số tiền 7.000 đồng, thành tiền 126.000 đồng; bao lô số 52 đài Tiền Giang số tiền 3.000 đồng, thành tiền 54.000 đồng; bao lô số 468 đài Tiền Giang số tiền 1.000 đồng, thành tiền 17.000 đồng; bao lô số 87 đài Kiên Giang số tiền 10.000 đồng, thành tiền 180.000 đồng; bao lô số 20, 70 đài Kiên Giang số tiền 4.000 đồng, thành tiền 144.000 đồng; bao lô số 36 đài Đ số tiền 13.000 đồng, thành tiền 234.000 đồng; bao lô số 52 đài Đ số tiền 4.000 đồng, thành tiền 72.000 đồng; đầu đuôi số 67 đài Đ, Tiền Giang, Kiên Giang số tiền 6.000 đồng, thành tiền 36.000 đồng. Tổng số tiền mua lô số đề của R là 863.000 đồng. Kết quả mở thưởng, R trúng số 17 đài Tiền Giang số tiền 490.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc của R là 1.353.000 đồng (tiền mua lô số đề 863.000 đồng, tiền trúng số đề 490.000 đồng).
6. Nguyễn Thị Thúy H1, sinh ngày 26/12/1981 mua lô số đề của L qua tin nhắn ứng dụng ZALO có số thuê bao 0914.632.223: bao lô số 82 đài Đ số tiền 7.000 đồng, thành tiền 126.000 đồng; bao lô số 382 đài Đà lạt số tiền 2.000 đồng, thành tiền 34.000 đồng. Tổng số tiền mua lô số đề của H1 là 160.000 đồng. Kết quả mở thưởng, H1 không trúng lô số đề nên số tiền đánh bạc của H1 là 160.000 đồng.
7. Trần Thị Ngọc Đ, sinh năm 1976 mua lô số đề của L qua tin nhắn điện thoại số 0937.418.863: bao lô số 28 đài Đ, Tiền Giang, Kiên Giang số tiền 25.000 đồng, thành tiền 1.350.000 đồng; bao lô số 028, 128 đài Đ, Tiền Giang, Kiên Giang số tiền 3.000 đồng, thành tiền 306.000 đồng; bao lô số 54 đài Kiên Giang số tiền 5.000 đồng, thành tiền 90.000 đồng; đầu đuôi số 854, 954 đài K (tỉ lệ trúng: 01 thắng 600 lần) số tiền 20.000 đồng, thành tiền 40.000 đồng. Tổng số tiền mua lô số đề của Đ là 1.786.000 đồng. Kết quả mở thưởng, Đ không trúng lô số đề nên số tiền đánh bạc của Đ là 1.786.000 đồng.
8. Huỳnh Thị Thanh L1, sinh năm 1971 nhờ Nguyễn Thị Thúy H1 nhắn tin mua lô số đề của L: đầu số 33 đài Đ số tiền 100.000 đồng; đuôi số 33 đài Đ số tiền 20.000 đồng; đầu đuôi số 33 đài Tiền Giang, Đ số tiền 20.000 đồng, thành tiền 80.000 đồng. Tổng số tiền mua lô số đề của L1 là 200.000 đồng. Kết quả mở thưởng, L1 không trúng lô số đề nên số tiền đánh bạc của L1 là 200.000 đồng; của H1 là 360.000 đồng (gồm H1 tự mua 160.000 đồng và H1 mua giúp L1 là 200.000 đồng).
9. T3 (chưa rõ họ tên, địa chỉ) trực tiếp đến mua số đề tại nhà L: bao lô số 87 đài Đ, Tiền Giang, Kiên Giang số tiền 5.000 đồng, thành tiền 270.000 đồng. Kết quả mở thưởng, T3 trúng số 87 đài Đ số tiền 350.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc của T3 là 620.000 đồng (tiền mua lô số đề 270.000 đồng, tiền trúng số đề 350.000 đồng).
Tổng cộng số tiền Nguyễn Cao Khánh L dùng vào việc đánh bạc đài Miền Nam ngày 15/12/2024 là 8.952.000 đồng (tiền bán số đề 5.592.000 đồng; tiền trúng số đề 3.360.000 đồng). Sau khi bán lô số đề cho các đối tượng trên, L nhắn tin mua lại lô, số đề của người phụ nữ có tên H2 (chưa rõ lai lịch) để hưởng huê hồng, số tiền là 3.819.000 đồng và tiền trúng đề là 1.295.00 đồng, tổng cộng là 5.114.000 đồng.
* Đài M:
1. Trần Thị Ngọc Đ, sinh năm 1976 mua lô số đề của L qua tin nhắn điện thoại số 0937.418.863: bao lô số 64, 77 số tiền 5.000 đồng, thành tiền 5.000 x 02 số x 27 lô = 270.000 đồng; bao lô số 82, 54 số tiền 15.000 đồng, thành tiền 810.000 đồng; số đá các số 82, 54 (số 82 đá số 54; tỷ lệ: 01 thắng 600 lần nếu đồng thời ra 2 số 82 và số 54) số tiền 5.000 đồng, thành tiền 5.000 x 02 số x 27 lô x 02 (số đá) = 270.000 đồng; số đá các số 82, 98, 90 (tỷ lệ: 01 thắng 600 lần nếu đồng thời ra 02 số bất kỳ trong các số 82, 98, 90) số tiền 3.000 đồng, thành tiền 3.000 x 03 số x 27 lô x 02 (số đá) = 486.000 đồng; bao lô số 854, 954 số tiền 2.000 đồng, thành tiền 2.000 x 02 số x 23 lô = 92.000 đồng; đuôi số 854, 954 số tiền 50.000 đồng, thành tiền 100.000 đồng. Tổng số tiền Đ mua lô số đề là 2.028.000 đồng. Tại thời điểm bắt quả tang chưa có kết quả mở thưởng đài xổ số Miền Bắc nên số tiền dùng đánh bạc của Đ là 2.028.000 đồng (số tiền mua lô số đề).
2. Nguyễn Thị Thúy H1, sinh ngày 26/12/1981 mua lô số đề của L qua tin nhắn ứng dụng ZALO có số thuê bao 0914.632.223: số đá các số 65, 32, 62, 43, 73 số tiền 1.000 đồng, thành tiền 540.000 đồng. Tổng số tiền H1 dùng đánh bạc là 540.000 đồng.
3. Nguyễn Thị S, sinh ngày 02/02/1967 mua lô số đề của L qua tin nhắn ứng dụng ZALO có số thuê bao 0384.190.392: bao lô số 62, 46 số tiền 5.000 đồng, thành tiền 270.000 đồng; số đá các số 62, 46 số tiền 2.500 đồng, thành tiền 135.000 đồng. Tổng số tiền S dùng đánh bạc là 405.000 đồng.
4. Tăng Mạnh P, sinh ngày 26/10/1979 mua lô số đề của L qua tin nhắn điện thoại số 0397.396.769: số đá các số 19, 59, 99 số tiền 1.000 đồng, thành tiền 162.000 đồng; số đá các số 19, 59, 95 số tiền 1.000 đồng, thành tiền 162.000 đồng; bao lô số 279 số tiền 5.000 đồng, thành tiền 115.000 đồng; bao lô số 79 số tiền 10.000 đồng, thành tiền 270.000 đồng. Tổng số tiền P dùng đánh bạc là 709.000 đồng.
5. Nguyễn Văn T2, sinh ngày 10/01/1964 mua lô số đề của L qua tin nhắn điên thoại số 0389.587.751: bao lô số 28, 82, 67, 76, 27, 72 số tiền 3.000 đồng, thành tiền 486.000 đồng. Tổng số tiền T2 dùng đánh bạc là 486.000 đồng.
6. Phan Thị H, sinh ngày 15/7/1968 mua lô số đề của L qua tin nhắn ứng dụng ZALO có số thuê bao 0965.537.377: bao lô số 17, 71 số tiền 3.000 đồng, thành tiền 162.000 đồng; số đá các số 17, 71 số tiền 2.000 đồng, thành tiền 108.000 đồng. Tổng số tiền H dùng đánh bạc là 270.000 đồng.
7. Huỳnh Thị Tuyết H3, sinh ngày 15/02/1983 mua lô số đề của L qua tin nhắn ứng dụng Messenger có số thuê bao 0372222429, 0918476580: số đá các số 24, 42, 22, 22 số tiền 1.000 đồng, thành tiền 324.000 đồng. Tổng số tiền H3 dùng đánh bạc là 324.000 đồng.
8. Nguyễn Văn R, sinh ngày 24/12/1957 mua lô số đề của L qua tin nhắn điện thoại số 0837.473.257: bao lô số 25, 52, 51, 73 số tiền 10.000 đồng, thành tiền 1.080.000 đồng; bao lô các số 00, 05, 09 số tiền 500 đồng, thành tiền 81.000 đồng; số đá các số 25, 52, 51, 73 số tiền 2.000 đồng, thành tiền 648.000 đồng. Tổng số tiền R dùng đánh bạc là 1.809.000 đồng.
9. Huỳnh Thị Thanh L1, sinh năm 1971 nhờ Nguyễn Thị Thúy H1 nhắn tin mua lô số đề của L: bao lô các số 12, 21, 99, 87, 63 số tiền 2.500 đồng, thành tiền 337.500 đồng; số đá các số 12, 21, 99, 87, 63 số tiền 500 đồng, thành tiền 270.000 đồng. Tổng số tiền L1 dùng đánh bạc là 607.500 đồng; của H1 là 1.147.500 đồng.
Tổng cộng số tiền Nguyễn Cao Khánh L dùng đánh bạc đài Miền Bắc ngày 15/12/2024 là 7.178.500 đồng.
Vật chứng, tài sản bị tạm giữ:
- Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Cao Khánh L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A12, màn hình cảm ứng, điện thoại gắn 02 thẻ sim có số thuê bao 0359386027 và số 0973188283; 01 cây bút bi mực màu xanh; 01 cây bút mực màu đỏ; 01 tờ giấy ghi đề ngày 15/12/2024 và số tiền 11.500.000 đồng dùng để đánh bạc. Đã xử lý hành chính tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 3.923.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022691 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V; còn lại số tiền 7.577.000 đồng đang tạm giữ tại tại Ngân hàng Đ1 (B2).
- Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn R: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen, loại bàn phím, gắn thẻ sim có số thuê bao 0837473257 và số tiền 6.282.000 đồng dùng để đánh bạc. Đã xử lý tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.672.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022687 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V; số tiền 3.610.000 đồng còn lại đang tạm giữ tại Ngân hàng Đ1 (B2).
- Tạm giữ của Huỳnh Thị Tuyết H3: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0372222429, 0918476580. Do hành vi của H3 vi phạm hành chính nên điện thoại di động của H3 đã xử lý tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022684 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V; ngoài ra H3 phải còn nộp số tiền 324.000 đồng dùng vào việc đánh bạc theo Quyết định hành chính.
- Tạm giữ của Nguyễn Thị S: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0384190392 và số tiền 405.000 đồng dùng để đánh bạc. Do hành vi của S vi phạm hành chính nên điện thoại di động và số tiền 405.000 đồng đã xử lý tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022689 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V.
- Tạm giữ của Nguyễn Thị Bạch T1: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0778885363, 0372020997 và số tiền 780.000 đồng dùng để đánh bạc. Do hành vi của T1 vi phạm hành chính nên điện thoại di động và số tiền 780.000 đồng đã xử lý tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022682 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V.
- Tạm giữ của Tăng Mạnh P: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy, màn hình cảm ứng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0793796933, 0397396769. Do hành vi của P vi phạm hành chính nên điện thoại di động của P đã xử lý tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022686 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V; ngoài ra P phải còn nộp số tiền 1.419.000 đồng dùng vào việc đánh bạc theo Quyết định hành chính.
- Tạm giữ của Nguyễn Thị Thúy H1: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy, màn hình cảm ứng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0914632223, 0981593635 và số tiền 700.000 đồng dùng để đánh bạc. Do hành vi của H1 vi phạm hành chính nên điện thoại di động và số tiền 700.000 đồng đã xử lý tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022681 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V.
- Tạm giữ của Trần Thị Ngọc Đ: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, màn hình cảm ứng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0937418863. Do hành vi của Đ vi phạm hành chính nên điện thoại di động của Đ đã xử lý tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022683 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V; ngoài ra Đ phải còn nộp số tiền 3.814.000 đồng dùng vào việc đánh bạc theo Quyết định hành chính.
- Tạm giữ của Nguyễn Văn T2: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0389587751, 0858033277 và số tiền 1.134.000 đồng dùng để đánh bạc. Do hành vi của Tam vi P1 hành chính nên điện thoại di động của T2 đã xử lý tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022685 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V; ngoài ra T2 phải còn nộp số tiền 2.352.000 đồng dùng vào việc đánh bạc (được khấu trừ số tiền 1.134.000 đồng đã nộp; T2 còn phải nộp thêm 1.218.000 đồng).
- Tạm giữ của Phan Thị H: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy, màn hình cảm ứng, gắn thẻ sim có số thuê bao 0965537377, 0374396499 và số tiền 445.000 đồng dùng để đánh bạc. Do hành vi của H vi phạm hành chính nên điện thoại di động và số tiền 445.000 đồng đã xử lý tịch thu theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022690 ngày 08/12/2025 của Công an tỉnh V.
- Đối với Huỳnh Thị Thanh L1 vi phạm hành chính nên Công an tỉnh V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0022688 ngày 08/12/2025 và buộc L1 nộp số tiền 807.500 đồng dùng vào việc đánh bạc.
Tại kết luận giám định số 243/2025/KL-KTHS-KV2 ngày 11/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh V về việc phục hồi dữ liệu trên các điện thoại đã thu giữ xác định Nguyễn Cao Khánh L còn có hành vi đánh bạc hình thức mua bán lô số đề thắng thua bằng tiền vào ngày 12/11/2024 và ngày 14/12/2024. Cụ thể như sau:
* Ngày 12/11/2024:
1. Đài M: Nguyễn Văn R mua lô số đề của L qua tin nhắn điện thoại số 0837.473.257: bao lô số 79 đài Bến Tre số tiền 15.000 đồng, thành tiền 270.000 đồng; bao lô số 479 đài Bến Tre số tiền 12.000 đồng, thành tiền 204.000 đồng; bao lô số 463, 579 đài Bến Tre số tiền 5.000 đồng, thành tiền 170.000 đồng; bao lô số 379 đài Bến Tre số tiền 2.000 đồng, thành tiền 34.000 đồng; bao lô số 079, 779, 272, 772 đài Bến Tre số tiền 1.000 đồng, thành tiền 68.000 đồng; bao lô số 68, 72 đài Bến Tre số tiền 10.000 đồng, thành tiền 360.000 đồng; bao lô số 28, 79 đài Vũng Tàu số tiền 5.000 đồng, thành tiền 180.000 đồng; số đầu 379 đài Vũng Tàu số tiền 30.000 đồng và số đuôi 379 đài Vũng Tàu số tiền 20.000 đồng; bao lô số 68 đài Vũng Tàu số tiền 20.000 đồng, thành tiền 360.000 đồng; bao lô số 28 đài Vũng Tàu số tiền 15.000 đồng, thành tiền 270.000 đồng; bao lô số 228 đài Vũng Tàu số tiền 2.000 đồng, thành tiền 34.000 đồng; bao lô số 728 đài Vũng Tàu số tiền 5.000 đồng, thành tiền 85.000 đồng; bao lô số 93, 51 đài Vũng Tàu số tiền 6.000 đồng, thành tiền 216.000 đồng; bao lô số 68 đài Bạc Liêu số tiền 10.000 đồng, thành tiền 180.000 đồng; bao lô số 72, 28 đài Bạc Liêu số tiền 6.000 đồng, thành tiền 216.000 đồng; bao lô số 87 đài Bạc Liêu số tiền 12.000 đồng, thành tiền 216.000 đồng; bao lô số 87 đài Bến Tre, Vũng Tàu, Bạc Liêu số tiền 3.000 đồng, thành tiền 162.000 đồng; đầu số 70 đài Bến Tre, Vũng Tàu, Bạc Liêu số tiền 60.000 đồng, thành tiền 180.000 đồng; đuôi số 70 đài Bến Tre, Vũng Tàu, Bạc Liêu số tiền 10.000 đồng, thành tiền 30.000 đồng; bao lô số 12, 21, 67, 76 đài Vũng Tàu số tiền 7.000 đồng, thành tiền 504.000 đồng; số đá các số 12, 21, 67, 76 đài Vũng Tàu số tiền 2.000 đồng, thành tiền 432.000 đồng. Tổng số tiền mua lô số đề của R là 4.221.000 đồng. Kết quả mở thưởng, Rê trúng số 68, 72 đài Bến Tre số tiền 1.400.000 đồng; trúng số 272 đài Bến Tre số tiền 600.000 đồng; trúng số 79 đài Vũng Tàu số tiền 700.000 đồng; trúng số 72 đài Bạc Liêu số tiền 420.000 đồng; trúng số 76 đài Vũng Tàu số tiền 490.000 đồng; tổng số tiền Rê trúng số đề là 3.610.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc của R là 7.831.000 đồng (tiền mua lô số đề 4.221.000 đồng, tiền trúng số đề 3.610.000 đồng).
Tổng cộng số tiền Nguyễn Cao Khánh L dùng đánh bạc đài Miền Nam ngày 12/11/2024 với Nguyễn Văn R là 7.831.000 đồng (tiền mua lô số đề 4.221.000 đồng, tiền trúng số đề 3.610.000 đồng).
2. Đài M: Nguyễn Văn R mua lô số đề qua tin nhắn điện thoại số 0837.473.257: bao lô số 67, 76, 87, 99 số tiền 10.000 đồng, thành tiền 1.080.000 đồng; số đá các số 67, 76, 87, 99 số tiền 2.000 đồng, thành tiền 648.000 đồng; số đá các số 37, 79, 97 số tiền 1.500 đồng, thành tiền 243.000 đồng; số đá các số 04, 94, 64 số tiền 1.000 đồng, thành tiền 81.000 đồng; bao lô 468, 711 số tiền 1.000 đồng, thành tiền 46.000 đồng; đầu đuôi số 11 số tiền 5.000 đồng, thành tiền 25.000 đồng; bao lô số 69 số tiền 2.000 đồng, thành tiền 54.000 đồng; số đá các số 94, 97 số tiền 5.000 đồng, thành tiền 270.000 đồng; bao lô số 94 số tiền 10.000 đồng, thành tiền 270.000 đồng; bao lô số 97 số tiền 5.000 đồng, thành tiền 135.000 đồng; số đá các số 66, 13 số tiền 1.500 đồng, thành tiền 81.000 đồng. Tổng số tiền mua lô số đề của R là 3.095.000 đồng. Kết quả mở thưởng, R trúng số 99 số tiền 700.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc của R là 3.795.000 đồng (tiền mua lô số đề 3.095.000 đồng, tiền trúng số đề 700.000 đồng).
Tổng cộng số tiền Nguyễn Cao Khánh L dùng đánh bạc đài Miền Bắc ngày 12/11/2024 với Nguyễn Văn R là 3.795.000 đồng (tiền mua lô số đề 3.095.000 đồng, tiền trúng số đề 700.000 đồng).
* Ngày 14/12/2024: Nguyễn Văn T2, sinh ngày 10/01/1964 mua lô số đề của L qua tin nhắn điện thoại số 0389.587.751 mua lô số đề đài M: bao lô số 85 đài Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang số tiền 4.000 đồng, thành tiền 288.000 đồng; bao lô số 57 đài Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước và Hậu Giang số tiền 3.000 đồng, thành tiền 216.000 đồng; bao lô số 50, 55 đài Long An, Bình Phước và Hậu Giang số tiền 3.000 đồng, thành tiền 324.000 đồng. Tổng số tiền mua lô số đề của T2 là 828.000 đồng. Kết quả mở thưởng, T2 trúng số 85 đài Hậu Giang số tiền 280.000 đồng; trúng số 55 đài B số tiền 210.000 đồng; tổng cộng Tam trúng 490.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc của T2 là 1.318.000 đồng (tiền mua lô số đề 828.000 đồng, tiền trúng số đề 490.000 đồng).
Tổng cộng số tiền Nguyễn Cao Khánh L dùng đánh bạc đài Miền Nam ngày 14/12/2024 với Nguyễn Văn T2 là 1.318.000 đồng (tiền mua lô số đề 828.000 đồng, tiền trúng số đề 490.000 đồng).
Tại Kết luận giám định số 78/2025/KL-KTHS-KV2 ngày 11/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Chữ viết trên phơi đề thu giữ của Nguyễn Cao Khánh L là do L viết ra.
Quá trình điều tra Nguyễn Cao Khánh L và Nguyễn Văn R khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia đánh bạc, vật chứng thu giữ, kết quả mở thưởng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2026/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao Khánh L phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Khánh L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án phạt tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Văn R 01 năm cải tạo không giam giữ cùng về tội “Đánh bạc”; quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.
Ngày 05 tháng 3 năm 2026 bị cáo Nguyễn Cao Khánh L có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo hoặc phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo thay đổi kháng cáo xin cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình.
Người bào chữa cho bị cáo L là Luật sư Đinh Thị B1 Mười trình bày:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo L nộp cho Hội đồng xét xử Đơn xin xác nhận có nội dung bị cáo đang nuôi con nhỏ, có cha mẹ già, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính. Mặc dù hộ gia đình bị cáo là hộ cận nghèo, mẹ bị cáo là hộ nghèo nhưng bản thân của bị cáo sau khi xét xử sơ thẩm đã xin được việc làm có thu nhập ổn định, đủ điều kiện kinh tế lo cho gia đình. Tại phiên tòa do bị cáo không am hiểu pháp luật nên kháng cáo xin hưởng án treo, bị cáo không hiểu biết thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần không đủ điều kiện hưởng án treo. Vì vậy, luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được áp dụng hình phạt tiền. Gia đình hộ cận nghèo là của mẹ bị cáo, bị cáo có việc làm có thu nhập ổn định đủ điều kiện áp dụng hình phạt tiền nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cao Khánh L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 27/02/2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 -Vĩnh Long.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Khánh L 09 (chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Bị cáo được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đang nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cao Khánh L nộp trong hạn luật định là hợp lệ, phù hợp quy định Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Lời khai của bị cáo L tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Xuất phát từ mục đích, động cơ tư lợi bất chính và ý thức xem thường pháp luật, Nguyễn Cao Khánh L và Nguyễn Văn R đã thực hiện hành vi đánh bạc với nhau thông qua hình thức mua bán lô số đề đài M thắng thua bằng tiền vào ngày 12/11/2024 tại ấp P, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) với tổng số tiền dùng đánh bạc của bị cáo L và R là 7.831.000 đồng (tiền mua lô số đề 4.221.000 đồng, tiền trúng số đề 3.610.000 đồng). Ngoài ra, ngày 15/12/2024 tại ấp P, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long), bị cáo L còn đánh bạc hình thức mua bán lô số đề đài M, Miền B thắng thua bằng tiền với những người khác với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của bị cáo L đối với đài M2 là 8.952.000 đồng (tiền bán lô số đề 5.592.000 đồng; tiền trúng lô số đề 3.360.000 đồng); đài Miền B là 7.178.500 đồng thì bị Cơ quan điều tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Cao Khánh L phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi để có thu nhập bất chính, bị cáo đã xem thường pháp luật nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc thông qua hình thức mua bán lô số đề cho nhiều người. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi của bị cáo, nhằm giáo dục riêng bị cáo trở thành công dân hữu ích và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận. Vì vậy giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Xét đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo về việc áp dụng hình phạt tiền cho bị cáo L: Căn cứ Giấy chứng nhận hộ cận nghèo 004/GCN.HN.HCN ngày 06/11/2024 của hộ ông Nguyễn Văn N, trong đó bị cáo L là thành viên hộ cận nghèo; ngoài ra, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo L cũng không cung cấp tình tiết nào mới chứng minh bị cáo có công việc thu nhập, kinh tế ổn định đủ điều kiện áp dụng hình phạt tiền nên không có căn cứ chấp nhận đề nghị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo L.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên phù hợp với quy định pháp luật và nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo Nguyễn Cao Khánh L được miễn nộp án phí hình sự phúc thẩm do thuộc hộ cận nghèo.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cao Khánh L.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh Long.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Khánh L 09 (chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Cao Khánh L được miễn tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I -TANDTC: 01; - VKSNDTC (Vụ 7): 01; - VKSND tỉnh Vĩnh Long: 01; - TAND khu vực 7-Vĩnh Long: 02; - VKSND khu vực 7-Vĩnh Long: 01; - Phòng THADS khu vực 7-Vĩnh Long: 01; - Bị cáo: 01; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long: 01; - Công an xã Lương Hòa: 01; - Lưu Văn phòng: 01; - Phòng GĐ,KT,TT&THA tỉnh Vĩnh Long: 01; - Lưu hồ sơ vụ án: 02. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Thị Mỹ Dung |