- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2025/HS-ST Ngày 17 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Uyên
Bà Trần Thị Thu Hương
Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Quân - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/TLST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo.
Họ và tên: Hoàng Văn T; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Sinh ngày 13 tháng 6 năm 1998 tại xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn P, xã C tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn C(đã chết) và bà Nông Thị T, sinh năm 1975; cư trú tại: Thôn P, xã C, tỉnh Lào Cai; Bị cáo chưa có vợ, chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: có 01 tiền sự: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 35/2024/QĐ-TA ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đối với Hoàng Văn T, thời gian 12 tháng. Ngày 11/01/2025, bị cáo chấp hành xong thời gian cai nghiện và đang thực hiện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy số 10/QĐ-UBND ngày 13/01/2025 của Ủy ban nhân dân xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai, thời hạn quản lý từ ngày 13/01/2025 đến 13/01/2027.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/8/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thuý An- Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai- Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 23 giờ 45 phút, ngày 15/8/2025 tổ công tác của Công an phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực đường Trần Phú, tổ 6 Nam Cường, phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai phát hiện bị cáo Hoàng Văn T có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, nên đã yêu cầu bị cáo về trụ sở Công an phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai để kiểm tra. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với bị cáo Hoàng Văn T tại Bệnh viện đa khoa số 2 tỉnh Lào Cai thể hiện dương tính với Heroine, Codein, Morphin. Công an phường Cam Đường đã đã lập biên bản vụ việc, thu giữ và niêm phong mẫu nước tiểu và bắt giữ bị cáo theo quy định.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 12/8/2025, tại khu vực nhà vệ sinh đang xây dựng của trường Trung học cơ sở số 01 Tả Phời, xã Hợp Thành, tỉnh Lào Cai, bị cáo Hoàng Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine bằng hình thức đốt ma túy trên giấy bạc rồi hít. Sau khi sử dụng xong, bị cáo đã cho giấy bạc xuống bồn cầu rồi xả nước, còn bật lửa bị cáo không nhớ rõ để ở đâu. Về nguồn gốc ma túy bị cáo sử dụng là do bị cáo nhờ một nam giới tên Tạo mua tại khu vực xã Châu Quế, tỉnh Lào Cai với giá 200.000đồng vào ngày 10/8/2025 để sử dụng.
Kết luận giám định số 1408/KL-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, kết luận:
Trong mẫu nước tiểu thu của Hoàng Văn T, gửi đến giám định có chất ma túy, loại Morphine, Codeine.
* Morphine và Codeine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người. Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
* Morphine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIA, số thứ tự 55, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Codeine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIB, số thứ tự 6, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Mẫu nước tiểu gửi đến giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 23/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của người bào chữa tại phiên toà: Bị cáo và người bào chữa nhất trí với tội danh như cáo trạng đã tuy tố. Tuy nhiên, người bào chữa mong Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh phạm tội của bị cáo, vì bị cáo là người dân tộc, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, không có tiền án; Sau khi phạm tội thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn T:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bị cáo là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 13/01/2025 của Ủy ban nhân dân xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai, thời hạn quản lý từ ngày 13/01/2025 đến 13/01/2027. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện bị cáo đã tái sử dụng trái phép chất ma tuý, nên vào khoảng 19 giờ ngày 12/8/2025 tại khu vực nhà vệ sinh đang xây dựng của Trường trung học cơ sở số 1 Tả Phời, xã Hợp Thành, tỉnh Lào Cai bị cáo đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine bằng hình thức đốt ma túy trên giấy bạc rồi hít. Đến ngày 15/8/2025 Công an phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai tiến hành kiểm tra và xét nghiệm đối với bị cáo Hoàng Văn T, kết quả kiểm tra bị cáo Thiệu dương tính với ma túy loại Morphine, Codeine.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám số 1408/KL-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Hoàng Văn T gửi giám định có chất ma túy, loại Morphine, Codeine (Morphine và Codeine là sản phẩm chuyển hóa của Heroin trong cơ thể người). Như vậy, bị cáo là người nghiện chất ma túy và đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc bị cáo bị quản lý theo quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú của Ủy ban nhân dân xã Chiền Ken, tỉnh Lào Cai, trong thời gian bị quản lý bị cáo đã tái nghiện và sử dụng chất ma tuý, đến ngày 12/8/2025 bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroine bằng hình thức hít. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, bị cáo có một tiền sự chưa được xoá. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.Vì vậy, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra không thu giữ tài liệu đồ vật gì
Đối với người nam giới tên Tạo mà bị cáo khai mua hộ ma túy Heroine cho bị cáo vào ngày 10/8/2025 tại địa bàn xã Châu Quế, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được thông tin lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này nên không có đủ căn cứ để xử lý trước pháp luật.
Về án phí: Do bị cáo bị kết án, nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý’’.
2. Về mức phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 02(hai) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 16/8/2025.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, điều 7, 7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnhLC(1); - VKSND tỉnh LC(1); - VKSND KV6 LC(1); - Cơ quan CSĐT CAT(1); - Cơ quan THAHS(1); - Phòng PV 06 CAT(1);; - Bị cáo(1); - T.H.ADS(1); - T.H.A HS (1); - Lưu HSVA./ CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( Đã ký) Nguyễn Thị Thuý Hằng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hằng |