- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2025/HS-ST Ngày 25-9-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Hữu Tin;
+ Bà Trần Thị Đông;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Công T (Tên gọi khác: T nô); sinh ngày 22/12/1997, tại xã N, thành phố Đà Nẵng; nơi thường trú: thôn M, xã T, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ cũ: thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam); nơi tạm trú: thôn V, xã N, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ cũ: thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Q); giới tính: nam; Q tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức T (sinh năm 1964) và bà Nguyễn Thị Kim L (sinh năm 1962); gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con út; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 18/12/2020, bị TAND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 24 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/02/2022, chấp hành xong án phí hình sự và các nghĩa vụ dân sự ngày 16/6/2021.
- Ngày 25/12/2017, bị Công an huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
- Ngày 10/01/2017, bị TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/11/2017, chấp hành xong án phí hình sự và các nghĩa vụ dân sự vào tháng 12/2018.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/5/2025, chuyển tạm giam từ ngày 21/5/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1989; trú tại: Khối phố 1, xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ cũ: Khối phố 1, thị trấn Núi Thành, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam). Vắng mặt.
2. Ông Ngô Q C, sinh năm 1992; trú tại: thôn V, xã N, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ cũ: thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Q). Vắng mặt.
3. Bà Đinh Tường Nh, sinh năm 2000; trú tại: thôn Đ, xã N, thành phố Đ (địa chỉ cũ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Q). Vắng mặt.
4. Bà Trần Thị Lệ D, sinh năm 1963; trú tại: thôn V, xã N, thành phố Đ (địa chỉ cũ: thôn V, xã , huyện N, tỉnh Quảng Nam). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 5/2025, Nguyễn Công T cùng người yêu là Đinh Tường Nh thuê ở tại nhà của bà Trần Thị Lệ D tại thôn Vân Thạch, xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng. Thông qua quan hệ xã hội, Nguyễn Công T biết được tại đoạn Dốc Sõi, tỉnh Quảng Ngãi có người đàn ông tên Tuấn Năm (không rõ lai lịch) bán ma túy đá nên sáng ngày 09/5/2025, T đón xe ôm đến khu vực trên gặp người đàn ông tên Tuấn Năm hỏi mua ma tuý đá với số tiền 4.000.000 đồng thì người này đồng ý. T đưa số tiền 4.000.000 đồng cho người đàn ông trên thì người này đưa lại cho T 01 bao lì xì màu đỏ, bên trong có 03 gói ni lông (loại túi zip) chứa ma túy đá. Sau đó, T mang ma túy đá về phòng trọ, T lấy một lượng ít ma túy đá sử dụng một mình, số ma túy còn lại T cất giấu tại bàn thờ của phòng bếp nhằm để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời.
Vào chiều cùng ngày, Nguyễn Hoàng K đến gặp T rồi hỏi mua ma tuý đá với số tiền 400.000 đồng. Kỳ đưa cho T số tiền 400.000 đồng thì T lấy một phần trong số ma túy đã mua của Tuấn Năm trước đó cho vào túi ni lông bán cho Kỳ, số ma túy còn lại T tiếp tục cất giấu tại bàn thờ phòng bếp nhà trọ. Kỳ đem gói ma túy mua được về nhà sử dụng một mình.
Đến khoảng 09 giờ ngày 12/5/2025, khi Nguyễn Công T và Đinh Tường Nh đang ở nhà trọ thì Nguyễn Hoàng K gọi điện thoại cho T hỏi có ở nhà trọ không, mục đích để đến mượn tiền thì T trả lời có. Lúc này, K đang uống cà phê cùng Ngô Cường Q nên nhờ Q chở đến nhà trọ của T. Khoảng 20 phút sau, Kỳ và Q đến nhà trọ của T thì nhìn thấy Nhi đang ngủ trong phòng, Kỳ đi vào phòng ngủ của T, còn Q đi vệ sinh. Khoảng 05 phút sau thì Tổ công tác Công an tỉnh Quảng Nam (nay là Công an thành phố Đà Nẵng) phối hợp cùng Công an xã Tam Hiệp (nay là Công an xã Núi Thành, thành phố Đà Nẵng) tiến hành kiểm tra, phát hiện trên bàn thờ phòng bếp nhà trọ của Nguyễn Công T thuê có 01 bì giấy màu đỏ, bên trong có 03 túi ni lông, có tích hợp khóa nhựa, bên trong mỗi gói có chứa chất tinh thể màu trắng nghi vấn là chất ma túy. Tiến hành thử mẫu xác định chất rắn màu trắng, dạng tinh thể chứa trong 03 túi ni lông trên đều là ma túy, loại Methamphetamine nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ các tang vật liên quan.
Qua test thử nhanh phát hiện trong nước tiểu Nguyễn Công T, Ngô Cường Q và Nguyễn Hoàng K đều dương tính với ma tuý, loại Methamphetamine, Đinh Tường Nh âm tính với ma tuý.
Tại Kết luận giám định số: 265/KL-KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; có khối lượng là 8,519 gam.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam số 265/PC09 chứa 7,580 gam ma túy (hoàn trả sau giám định).
- 03 túi ni lông, có tích hợp khóa nhựa, trên miệng khóa có viền màu đỏ, có ký hiệu lần lượt là 1, 2 và 3, bên trong không chứa gì.
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màu đen, bên trong có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0766720175;
- 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh bên trong có sim số 0799.369.697; 0898.263.914 và IMEI 1: 862255053574791; IMEI 2: 862255053574783;
- 01 bì giấy, màu đỏ.
Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKSKV5 ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Công T với mức án từ 7 (Bảy) năm 6 (sáu) tháng đến 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” .
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam số 265/PC09 chứa 7,580 gam ma túy (hoàn trả sau giám định); 03 túi ni lông, có tích hợp khóa nhựa, trên miệng khóa có viền màu đỏ, có ký hiệu lần lượt là 1, 2 và 3, bên trong không chứa gì; 01 bì giấy màu đỏ.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màu đen, bên trong có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0766720175 thu giữ của bị cáo Nguyễn Công T.
+ Trả lại cho Nguyễn Hoàng K 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh bên trong có sim số 0799.369.697; 0898.263.914 và IMEI 1: 862255053574791; IMEI 2: 862255053574783 thu giữ của Nguyễn Hoàng K.
- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự: truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Công T là 400.000 đồng.
- Về các vấn đề khác có liên quan:
- Đối với đối tượng tên Tuấn Năm bán ma túy cho Nguyễn Công T, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa đủ cơ sở để xử lý, cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
- Đối với bà Trần Thị Lệ D cho Nguyễn Công T thuê nhà để ở và Đinh Tường Nh là người ở cùng T, do bà D và Nh đều không biết việc Nguyễn Công T cất giấu ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Ngô Cường Q (ma tuý do Q mua của người không rõ lai lịch tại Dốc Sỏi, tỉnh Quảng Ngãi rồi sử dụng một mình tại phòng trọ của Q) và hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Công T, Nguyễn Hoàng K là hành vi vi phạm hành chính nên Công an tỉnh Quảng Nam đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Công T không tranh luận, nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
. Tại phiên toà, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai được Cơ quan điều tra lấy lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử nên tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 09 giờ 40 ngày 12/5/2025, tại nhà bà Trần Thị Lệ D, Tổ công tác Công an tỉnh Quảng Nam (nay là Công an thành phố Đà Nẵng) phối hợp cùng Công an xã Tam Hiệp (nay là Công an xã Núi Thành) tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Công T có hành vi cất giấu tại phòng bếp nhà trọ của T đang thuê 8.519 gam ma tuý, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Qua điều tra xác định, vào chiều ngày 09/5/2025 tại hành lang nhà trọ của Nguyễn Công T đang thuê, T đã bán cho Nguyễn Hoàng K 01 gói ma túy đá với số tiền 400.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Công T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Ma túy là loại độc dược gây nghiện có tác hại rất lớn, lâu dài đối với sức khỏe con người và xã hội; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác, tác động tiêu cực đến trật tự trị an tại địa phương. Chính vì thế mà Nhà nước nghiêm cấm và xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, có đủ khả năng nhận thức để biết được tác hại và những quy định cấm của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy nhưng để có tiền tiêu xài và tái sử dụng ma túy, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi mua bán ma túy trái phép cho các đối tượng nghiện khác. Vì vậy, cần có mức hình phạt thật nghiêm khắc để tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy đang có chiều hướng ngày càng gia tăng.
. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa bị cáo không thành khẩn khai báo về mục đích mua ma tuý, bị cáo cho rằng mục đích mua ma tuý là để sử dụng chữa bệnh đau răng. Trong khi đó, tại cơ quan điều tra, bị cáo khai mục đích mua ma tuý là để bán lại cho người khác và sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với bị cáo.
Bị cáo có nhân thân xấu: ngày 18/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 25/12/2017, bị Công an huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; ngày 10/01/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam số 265/PC09 chứa 7,580 gam ma túy (hoàn trả sau giám định); 03 túi ni lông, có tích hợp khóa nhựa, trên miệng khóa có viền màu đỏ, có ký hiệu lần lượt là 1, 2 và 3, bên trong không chứa gì; 01 bì giấy màu đỏ: xét đây là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màu đen, bên trong có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0766720175 thu giữ của bị cáo Nguyễn Công T: Xét đây là tài sản đã được bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh bên trong có sim số 0799.369.697; 0898.263.914 và IMEI 1: 862255053574791; IMEI 2: 862255053574783 thu giữ của Nguyễn Hoàng K do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Nguyễn Hoàng K.
. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Công T đã bán ma túy cho Nguyễn Hoàng K thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng nên cần truy thu số tiền nêu trên của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46 và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
. Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
- Đối với đối tượng tên Tuấn Năm bán ma túy cho Nguyễn Công T, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa đủ cơ sở để xử lý, cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
- Đối với bà Trần Thị Lệ D cho Nguyễn Công T thuê nhà để ở và Đinh Tường Nh là người ở cùng T, do bà Duyên và Nhi đều không biết việc Nguyễn Công T cất giấu ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Ngô Cường Q (ma tuý do Q mua của người không rõ lai lịch tại Dốc Sỏi, tỉnh Quảng Ngãi rồi sử dụng một mình tại phòng trọ của Q) và hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Công T, Nguyễn Hoàng K là hành vi vi phạm hành chính nên Công an tỉnh Quảng Nam đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 12/5/2025).
[2]. Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Công T là 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).
[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam số 265/PC09 chứa 7,580 gam ma túy (hoàn trả sau giám định); 03 túi ni lông, có tích hợp khóa nhựa, trên miệng khóa có viền màu đỏ, có ký hiệu lần lượt là 1, 2 và 3, bên trong không chứa gì; 01 bì giấy màu đỏ.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màu đen, bên trong có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0766720175 thu giữ của bị cáo Nguyễn Công T.
- Trả lại cho Nguyễn Hoàng K 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh bên trong có sim số 0799.369.697; 0898.263.914 và IMEI 1: 862255053574791; IMEI 2: 862255053574783 thu giữ của Nguyễn Hoàng K.
(Các vật chứng nêu trên hiện nay đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Đà Nẵng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 9 năm 2025).
[4]. Về án phí: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Công T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/9/2025). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Đà Nẵng; - VKSND khu vực 5 - Đà Nẵng; - Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng; - Bị cáo, người TGTT khác; - Lưu hồ sơ vụ án + Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bích Ân |