vanban.org

Bản án 64/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Sầm Văn Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sầm Văn Ph 07 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/6/2025; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sầm Văn Ph phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Sầm Văn Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST
Ngày 29 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Thị Thùy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Điềm và ông Nông Trung Kiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Hoa, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 54/2025/TLST - HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST

- HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Sầm Văn Ph; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/12/1981 tại xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

Nơi thường trú và nơi ở: Xóm Đ, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Sầm Văn P và bà Nông Thị Kh (đều đã chết); Vợ: Nông Thị S (sinh năm 1982) và 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Trùng Khánh, Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)

* Người làm chứng:

- Nông Văn C, sinh năm 1991, trú tại xóm P, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

- Hoàng Văn Tr1, sinh năm 2004, trú tại xóm Gi, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

- Hoàng Văn Tr2, sinh năm 2000, trú tại xóm Gi, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

- Nông Văn S, sinh năm 1990, trú tại xóm Đ, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

- Lô Văn H, sinh năm 1992, trú tại xóm Đ, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng;

- Hoàng Văn M, sinh năm 1984, trú tại xóm Gi, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

(Đều vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 24/6/2025, tổ công tác Đồn Biên phòng Ngọc Chung chủ trì, phối hợp với Đội Đặc nhiệm Phòng Phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng và Công an xã Khâm Thành, huyện Trùng Khánh (nay là xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực xóm Đ, xã Trùng Khánh phát hiện tại nhà ở của Sầm Văn Ph, sinh năm 1981 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra. Kết quả kiểm tra phát hiện trên nền nhà cách chỗ ngồi của Sầm Văn Ph khoảng 20cm có 01 gói giấy bạc và 01 gói ni lông màu trắng, bên trong đều chứa các cục chất bột màu trắng. Sầm Văn Ph khai nhận 02 gói trên là ma túy, Ph mua về để sử dụng cho bản thân và bán lẻ kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sầm Văn Ph; vật chứng thu giữ gồm số ma túy nêu trên và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu REALME, màn hình cảm ứng, đã sử dụng.

Cùng ngày 24/6/2025, lực lượng chức năng khám xét khẩn cấp chỗ ở của Sầm Văn Ph. Kết quả khám xét phát hiện, thu giữ 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 01 gói ni lông màu trắng chứa các cục chất bột màu trắng; 01 cân điện tử màu bạc, đã sử dụng và 6.550.000 đồng.

Ngày 25/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang và khám xét của Sầm Văn Phú có khối lượng 0,57 gam. Tại Kết luận giám định số 301/KL-KTHS ngày 02/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “02 mẫu chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột bên trong 02 phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine”.

Tại Cơ quan điều tra, Sầm Văn Ph khai nhận các gói nhỏ chứa các cục chất bột màu trắng lực lượng chức năng thu giữ khi bắt quả tang và khám xét là ma túy, loại Heroine của Ph. Mục đích Ph mua ma túy về để sử dụng cho bản thân và bán cho người khác kiếm lời. Ph thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ tháng 02/2025 đến thời điểm bị bắt quả tang, loại ma túy bán là heroine. Bị cáo không chia sẵn ma túy từ trước, khi có người hỏi mua bị cáo mới chia ra để bán giá từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng; địa điểm bán là ở trong nhà và xung quanh nhà bị cáo; thời gian bán không cố định trong ngày. Người mua ma túy đều đến gặp trực tiếp bị cáo. Trước khi bị bắt, Ph đã bán ma túy cho nhiều người nhưng chỉ nhớ tên, địa chỉ những người sau:

- Bán ma túy cho Nông Văn C, sinh năm 1991, trú tại xóm P, xã Trùng Khánh khoảng 30 lần, trong đó: khoảng 20 lần mỗi lần 300.000 đồng và khoảng 10 lần mỗi lần 200.000 đồng. Thời gian bán từ tháng 02/2025 đến tháng 06/2025, lần gần nhất vào ngày 24/6/2025 với số tiền 300.000 đồng;

- Bán ma túy cho Hoàng Văn Tr1, sinh năm 2004, trú tại xóm Gi, xã Trùng Khánh 05 lần, mỗi lần bán với số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất vào ngày 23/6/2025;

- Bán ma túy cho Hoàng Văn Tr2, sinh năm 2000, trú tại xóm Gi, xã Trùng Khánh 04 lần, mỗi lần bán với số tiền 200.000 đồng, không nhớ thời gian cụ thể;

- Bán ma túy cho Nông Văn S, sinh năm 1990, trú tại xóm Đ, xã Trùng Khánh 02 lần, một lần bán với số tiền 100.000 đồng, một lần bán với số tiền 200.000 đồng. Không nhớ thời gian cụ thể;

- Bán ma túy cho Lô Văn H, sinh năm 1992, trú tại xóm Đ, xã Trùng Khánh 01 lần với số tiền 100.000 đồng, không nhớ thời gian cụ thể;

- Bán ma túy cho Hoàng Văn M, sinh năm 1984, trú tại xóm Gi, xã Trùng Khánh 01 lần với số tiền 100.000 đồng vào ngày 22/6/2025.

Quá trình điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng về số lần, số lượng, số tiền, thời gian, địa điểm và hình thức mua bán ma túy.

Vật chứng của vụ án được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 ra Quyết định chuyển vật chứng đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng để bảo đảm việc xét xử vụ án.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSKV3 ngày 11 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã truy tố bị cáo Sầm Văn Ph ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Sầm Văn Ph thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với số ma túy thu giữ là của bị cáo, bị cáo mua về để sử dụng và bán lại kiếm lời, bị cáo đã bán ma túy 43 lần cho 06 người, thu lợi bất chính 10.300.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu bạc, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng bị cáo có được sử dụng để trao đổi mua bán ma túy; đối với số tiền 6.550.000 đồng (Sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo thì 500.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy có được, 6.050.000 là tiền bị cáo đi làm thuê có được; mảnh giấy bạc, túi ni lông, mảnh giấy vệ sinh và 01 cân điện tử bị cáo có sử dụng liên quan đến hành vi mua bán ma túy.

Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sầm Văn Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Sầm Văn Ph. Xử phạt bị cáo Phú từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Số 301/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Sầm Văn Ph, bắt ngày 24/6/2025”; mặt sau có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu tròn mực màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng;

- 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng (mảnh giấy bạc, túi ni lông và mảnh giấy vệ sinh vụ Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 24/6/2025 tại xóm Đ, xã Khâm Thành, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”; mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của Sầm Văn Phú, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 (bốn) hình dấu tròn mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng;

- 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong lại, mặt trước phong bì ghi: “01 (một) cân điện tử thu giữ khi khám xét chỗ ở của Sầm Văn Ph ngày 24/6/2025”; mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký, họ tên của Sầm Văn Ph, chữ ký, họ tên của thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu của Ủy ban nhân dân xã Khâm Thành;

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu REALME, màu bạc, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 861880071338258, số IMEI 2: 861880071338241; số tiền 500.000 đồng;

Trả lại cho bị cáo số tiền 6.050.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Truy thu bị cáo Sầm Văn Ph số tiền 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm nghìn đồng) do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Sầm Văn Phú mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo Sầm Văn Ph. Cụ thể: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 24/6/2025, tại xóm Đ, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Đồn Biên phòng Ngọc Chung chủ trì, phối hợp với Đội Đặc nhiệm Phòng Phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng và Công an xã Trùng Khánh phát hiện, bắt quả tang Sầm Văn Ph, sinh năm 1981, trú tại xóm Đ, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép 0,57 gam ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán cho người khác kiếm lời. Vật chứng thu giữ được gồm số ma túy nêu trên; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME; 01 cân điện tử và 6.550.000 đồng.

Từ tháng 02/2025 đến ngày bị bắt, Sầm Văn Ph đã bán ma túy 43 lần cho 06 người, thu lợi bất chính 10.300.000 đồng. Ngoài ra, Ph còn bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không biết tên, địa chỉ.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy nhưng thấy lợi nhuận cao từ bán ma túy nên đã bất chấp pháp luật để thưc hiện. Việc làm của bị cáo đã tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, làm giảm sút sức lao động, hủy hoại đến sức khỏe và trí tuệ của con người, khiến dư luận và nhân dân địa phương bất bình, và là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác; xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; hành vi phạm tội của bị cáo còn thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Ph bán ma túy nhiều lần, mỗi lần bán đều cấu thành tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, khối lượng ma túy thu giữ được của bị cáo là 0,57 gam (không phẩy năm mươi bảy gam) là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Sầm Văn Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nên có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi mua bán ma túy của mình và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước Hạng Ba. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Sầm Văn Ph; Tình tiết tăng nặng: bị cáo Phú không có tình tiết tăng nặng;

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sầm Văn Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù. Xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hơi cao so với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo cũng như khối lượng ma túy thu giữ được của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo hình phạt thấp hơn hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ.

. Các nhận định khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo có để bán vào thời gian trước đó và số ma túy phát hiện, thu giữ ngày 24/6/2025. Bị cáo khai nhận nhờ những người không quen biết gặp ở khu vực gần Cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Trùng Khánh đi mua giúp. Đối với người đàn ông bị cáo nhờ đi mua ma túy giúp vào ngày 23/6/2025, bị cáo không nhớ đặc điểm nhận dạng và không nhớ số điện thoại của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng theo quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác;

Đối với những người làm chứng Tr1, Tr2, M, S, C đều là những người sử dụng trái phép chất ma túy, mua ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Tại Cơ quan điều tra, những người làm chứng trên đã thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với Cơ quan Điều tra để làm rõ bản chất vụ án một cách khách quan, nhanh chóng. Tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Tr1, Tr2, M, S, C đều cho kết quả âm tính. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra xét thấy không cần thiết phải xử lý các đối tượng trên mà nhắc nhở, răn đe, giáo dục để trở thành công dân tốt. Đồng thời thông báo đến Công an xã nơi Tr1, Tr2, M, S, C cư trú để biết và có biện pháp quản lý theo quy định.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự : Số heroine hoàn mẫu sau giám định thu giữ của bị cáo Sầm Văn Ph là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành, mảnh giấy bạc, túi ni lông và mảnh giấy vệ sinh, 01 cân điện tử bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu bạc, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 861880071338258, số IMEI 2: 861880071338241 và số tiền 500.000 đồng đều liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; đối với số tiền thu giữ của bị cáo 6.050.000 đồng là tiền do bị cáo làm thuê có được nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; tại phiên tòa, xác định được bị cáo Sầm Văn Ph đã bán ma túy và thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy được số tiền 10.300.000 đồng (Mười triệu ba trăm nghìn đồng), tuy nhiên được trừ đi số tiền 500.000 đồng đã thu giữ của bị cáo. Vì vậy, cần truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm nghìn đồng).

. Về án phí: Bị cáo Sầm Văn Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Ph có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Sầm Văn Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Sầm Văn Ph;

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Sầm Văn Ph 07 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/6/2025;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Ph.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Số 301/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Sầm Văn Ph, bắt ngày 24/6/2025”; mặt sau có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu tròn mực màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng;

- 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng (mảnh giấy bạc, túi ni lông và mảnh giấy vệ sinh vụ Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 24/6/2025 tại xóm Đ, xã Khâm Thành, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”; mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của Sầm Văn Ph, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 (bốn) hình dấu tròn mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng;

- 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong lại, mặt trước phong bì ghi: “01 (một) cân điện tử thu giữ khi khám xét chỗ ở của Sầm Văn Ph ngày 24/6/2025”; mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký, họ tên của Sầm Văn Ph, chữ ký, họ tên của thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu của Ủy ban nhân dân xã Khâm Thành;

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu REALME, màu bạc, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 861880071338258, số IMEI 2: 861880071338241; số tiền 500.000 đồng;

Trả lại cho bị cáo số tiền 6.050.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Cao Bằng tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/11/2025.

Truy thu bị cáo Sầm Văn Ph số tiền 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm nghìn đồng) do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước;

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Sầm Văn Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Sầm Văn Ph. Bị cáo Phú có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ