vanban.org

Bản án 64/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Anh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Anh C 03 (Ba) năm 09 (chín) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trân A Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Anh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Anh C 03 (Ba) năm 09 (chín) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST
Ngày 27 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tâm

Ông Nguyễn Duy Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Tăng Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Anh C (Tên gọi khác: Không có) - Sinh năm 1982; Nơi sinh: Tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Thôn Th Đ, xã Th N, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Phương Ch, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1960; Vợ: Đào Thị Ng (đã ly hôn); Bị cáo có một sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hành chính, chưa bị Toà án nào xét xử.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại phân Trại tạm giam Mường Thanh từ ngày 10/8/2025 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong một lần đi chơi tại quán FOX CLUB thuộc phường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, Trần Anh C gặp một người phụ nữ tự giới thiệu tên Hà, nhà ở gần quán Lá Cọ thuộc phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên, Hà nói với C nếu cần mua ma túy thì đến khu vực gần quán Lá Cọ tìm Hà. Khoảng 09 giờ ngày 10/8/2025 Trần Anh C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1-558.67 từ nhà ở thôn Th Đ, xã Th N, tỉnh Đ đến khu vực quán Lá Cọ, thuộc phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên mục đích tìm Hà để mua ma túy về sử dụng. Tại khu vực đường gần quán Lá Cọ, C gặp và mua được của Hà 01 gói Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng. Mua xong, C và Hà hẹn nhau cùng đến nhà nghỉ Hoài Thu thuộc phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên để cùng sử dụng ma túy. C cầm gói Methamphetamine ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi đến nhà nghỉ Hoài Thu trước, còn Hà đến sau. Hồi 9 giờ 40 phút cùng ngày, khi C đi đến khu vực bản Khá, phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên yêu cầu dừng lại kiểm tra. Thấy tổ công tác, C đã thả gói ma tuý đang cầm ở tay trái xuống đất cách vị trí C dừng xe khoảng 01m, thì bị tổ công tác phát hiện và thu giữ gói ma tuý C vừa thả có đặc điểm là 01 gói bằng phong bì thư bưu điện màu trắng, cuốn bên ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong phong bì có 01 gói nilon màu hồng chứa 18 viên Methamphetamine có khối lượng 1,81 gam.

Vật chứng thu giữ gồm: 1,81 gam Methamphetamine (đã gửi toàn bộ giám định, hoàn lại sau giám định gồm 0,8 gam Methamphetamine); 01 mảnh băng dính màu đen; 01 phong bì thư bưu điện màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-558.67.

Tại bản kết luận giám định số: 816/KL-KTHS ngày 15/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng: 1,81 gam. Viên hồng phiến gửi đi giám định là ma túy loại Methamphetamine, nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 0,8 gam Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số: 44/CT-VKSKV2 ngày 12/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đã truy tố bị cáo Trần Anh C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Trần Anh C từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS): 1,81 gam Methamphetamine (đã gửi toàn bộ giám định, hoàn lại sau giám định gồm 0,8 gam Methamphetamine); 01 mảnh băng dính màu đen; 01 phong bì thư bưu điện màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng;

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-558.67 (đăng ký xe Trần Anh C).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người quả tang, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 09 giờ 40 phút ngày 10/8/2025, tại khu vực bản Khá, phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên, bị cáo Trần Anh C đã có hành vi cất giấu trái phép 1,81 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Trần Anh C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

… c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.

[2] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 10/8/2025; Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025 đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025 để xét xử đối với hành vi phạm tội của Bị cáo.

[3] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huy chương C thắng Hạng Nhất và Huy chương kháng C Hạng Nhì, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS.

Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hành chính, chưa bị Toà án nào xét xử. Bị cáo có nhân thân tốt.

[5]. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cho bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo sống với bố mẹ, không có tài sản gì có giá trị và bị cáo đi chấp hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.

[7]. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng: 1,81 gam Methamphetamine (đã gửi toàn bộ giám định, hoàn lại sau giám định gồm 0,8 gam Methamphetamine); 01 mảnh băng dính màu đen; 01 phong bì thư bưu điện màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng;

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-558.67, nhãn hiệu HONDA; số loại WAVEα; màu sơn trắng bạc; số máy JA39E-0064645; số khung LHJA3904HY064593; dung tích xi lanh: 109 cm3; Năm sản xuất năm 2017 và kèm theo 01 chìa khoá, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong, đăng ký xe Trần Anh C. Xe là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo đã dùng vào việc phạm tội. Do vậy HĐXX có cơ sở tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8]. Các vấn đề khác:

Bị cáo khai nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ bị cáo mua của người phụ nữ tự giới thiệu tên là Hà, nhà ở khu vực gần quán Lá Cọ, phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên. Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa phương, nhưng không có người như bị cáo mô tả, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ. Do vậy HĐXX không xem xét xử lý.

[9]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[10]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Anh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Anh C 03 (Ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (10/8/2025).

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy gồm: 1,81 gam Methamphetamine (đã gửi toàn bộ giám định, hoàn lại sau giám định gồm 0,8 gam Methamphetamine); 01 mảnh băng dính màu đen; 01 phong bì thư bưu điện màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-558.67. nhãn hiệu HONDA; số loại WAVEα; màu sơn trắng bạc; số máy JA39E-0064645; số khung LHJA3904HY064593; dung tích xi lanh: 109 cm3; Năm sản xuất năm 2017 và kèm theo 01 chìa khoá, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong. Đăng ký xe mang tên Trần Anh C.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Điện Biên).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/9/2025). Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Điện Biên;

- VKSND Khu vực 2 - Điện Biện;

- Công an tỉnh ĐB (PC04, PV06);

- Cơ quan THAHS tỉnh Điện Biên;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Phân trại Trại tạm giam Na Son;

- Phòng THADS Khu vực 2-ĐB;

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

Trần Thị Thương Huyền

- Lưu VP.

THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thương Huyền Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND HĐB;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an HĐB;

- Cơ quan THAHS HĐB;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS HĐB;

Trần Thị Thương Huyền

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thương Huyền Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS TP ĐBP;

Trần Thị Thương Huyền

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

Trần Thị Thương Huyền

- Chi cục THADS TP ĐBP;

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thương Huyền

Cỡ chữ