vanban.org

Bản án 64/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Tấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Thị T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRƯƠNG TẤN L+ĐB BỊ TRUY TỐ VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Tấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15 – LÂM ĐỒNG
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST
Ngày: 27/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tơ và bà Nguyễn Thị Lệ Thanh;

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thái Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng;

Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng (Trụ sở chính) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 30/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 726/2025/QĐXXST-HS ngày 12/11/2025, đối với các bị cáo:

1. TRƯƠNG TẤM L, (Tên gọi khác: X), sinh năm 1993 tại tỉnh L;

Nơi thường trú: Tổ dân phố A B, phường L, tỉnh L;

Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Trương Tấn N (Chết) và bà Bùi Thị T;

Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con lớn nhất;

Vợ: Nguyễn Thị T1; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011 và con nhỏ nhất sinh năm 2020;

Tiền sự: Không;

Tiền án: 01;

Tại Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 24/3/2022, Trương Tấn L bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận cũ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy”, đến ngày 03/02/2024 thì chấp hành xong hình phạt, đã thi hành xong án phí, chưa được xóa án tích;

Nhân thân: Tại Bản án số 111/2012/HSST ngày 25/12/2012, Trương Tấn L bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận cũ xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất Ma túy”, đến ngày 31/01/2017 thì chấp hành xong hình phạt, đã thi hành xong án phí và nộp tiền sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/5/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực số B, Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

2. NGUYỄN MINH H, (Tên gọi khác: T2), sinh năm 1999 tại tỉnh L;

Nơi thường trú: Tổ dân phố D B, phường L, tỉnh L;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn Văn L1 và bà Huỳnh Thị Ngọc V;

Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba;

Vợ, con: Chưa có.

Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Bị cáo bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/5/2025, bị tạm giữ từ ngày 12/5/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực số B, Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

3. NGUYỄN THỊ T1, (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1988 tại tỉnh L;

Nơi thường trú: Tổ dân phố A B, phường L, tỉnh L;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Cha: Nguyễn Văn L2; Mẹ: Nguyễn Thị B (Chết);

Gia đình có 09 chị em, bị cáo là con thứ sáu;

Chồng: Trương Tấn L, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011 và con nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bắt, tạm giữ từ ngày 12/5/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực số B, Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 05/2025, Trương Tấn L vào Bến xe M ở Tp . gặp và mua của một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch 500.000đ ma túy đá và 2.000.000đ heroine với mục đích sử dụng và bán lại để kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, L đem về nhà mình ở Tổ dân phố A B, phường L, tỉnh Lâm Đồng cất gói Heroine vào trong tủ để có ai mua thì bán, còn gói ma túy đá thì L bỏ vào trong nỏ thủy tinh để sử dụng nhưng chưa hết. Sau khi sử dụng xong, L cất nó thủy tinh còn ma túy vào trong tủ để dành sử dụng tiếp. Lấm dặn vợ là Nguyễn Thị T1 nếu có ai đến hỏi mua ma túy thì L gọi điện thoại về mới được bán. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 11/5/2025, L đang chơi ở nhà bạn thì có một người tên T3 (Không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện cho L hỏi mua 01 chỉ ma túy loại Heroine với giá 3.500.000đ thì L đồng ý bán. Sau đó L gọi điện thoại cho Nguyễn Minh H và nói H đến nhà L gặp T1 để lấy ma túy đi bán cho T3, đồng thời L gọi điện thoại yêu cầu T1 lấy 01 chỉ ma túy Heroine đưa cho H đi bán với giá 3.500.000đ. Sau khi nghe điện thoại của L, T1 mở tủ lấy 01 chỉ ma túy loại Heroine ra để trên bàn thờ ông địa. Khoảng 10 phút sau, H điều khiển xe mô tô BKS 19P1 – 6289 chạy tới nhà L gặp T1, T1 chỉ chỗ để ma túy cho H, H đi đến bàn thờ ông địa lấy gói ma túy và hỏi T1 giá bao nhiêu thì T1 nói là 3.500.000đ. H bỏ gói ma túy vào túi quần điều khiển xe mô tô chạy đi thì L gọi điện thoại cho H nói là lấy bịch ma túy bỏ xuống dưới lòng bàn chân, rồi chạy tới hẻm B ở Tổ dân phố H T, phường L, tỉnh Lâm Đồng đưa cho T3 và lấy 3.500.000đ. Nghe điện thoại xong, H lấy bịch ma túy bỏ xuống dưới lòng bàn chân rồi điều khiển xe mô tô đi. Khi H điều khiển xe mô tô chạy đến hẻm B thì bị lực lượng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B bắt quả tang thu giữ 01 gói nylon không màu có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (04×7,5)cm, bên trong gói nylon có chứa chất rắn màu trắng; 01 xe mô tô BKS 19P1-6289; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh. Ngay sau đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của vợ chồng Nguyễn Thị T1 và Trương Tấn L tại Tổ dân phố A B, phường L, tỉnh Lâm Đồng, quá trình khám xét thu giữ tại nhà của T1 và L 01 chai nước suối, có nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 lỗ tròn, một lỗ được cắm ống hút nước giải khát màu đỏ, một lỗ được cắm 01 ống thủy tinh cong, một đầu ống thủy tinh được thổi phồng bên trong có chứa chất dạng rắn màu nâu; 01 quẹt gas; 01 điện thoại Iphone; 01 điện thoại OPPO màu xanh; số tiền 107.200.000đ. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trương Tấn L và Nguyễn Thị T1, thu giữ của Trương Tấn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A60 màu tím.

Tại Kết luận giám định số 524/KL-KTHS ngày 16/5/2025 của Phòng K, Công an tỉnh B cũ xác định:

- Một gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7,5×4)cm, bên trong có chứa chất rắn màu trắng được ký hiệu là M1: Có khối lượng là 4,0795 gam, là Heroine.

- Một ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng 01 đầu, bên trong có chứa chất rắn màu nâu được ký hiệu là M2: Có khối lượng là 0,2333 gam, là Methamphetamine.

Vật chứng vụ án thu giữ gồm có:

- 4,0795 gam Heroine, hiện còn 4,0207 gam (Do lấy mẫu giám định) cùng 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ kích thước khoảng (7,5×4)cm được niêm phong trong phong bì số 524/1 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;

- 0,2333 gam Methamphetamine, hiện còn 0,2181 gam (Do lấy mẫu giám định) cùng 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng 01 đầu được niêm phong trong phong bì số 524/2 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;

- 01 xe mô tô BKS 19P1-6289;

- 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh của Nguyễn Minh H;

- 01 chai nước suối, có nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 lỗ tròn, một lỗ được cắm ống hút nước giải khát màu đỏ;

- 01 quẹt gas;

- 01 điện thoại Iphone của Nguyễn Thị T1;

- số tiền 107.200.000đ đã được giao trả cho Nguyễn Thị T1;

- 01 điện thoại OPPO màu xanh đã giao trả cho Nguyễn Thị T1;

- 01 điện thoại OPPO A60 màu tím của Trương Tấn L;

Với nội dung như trên, Cáo trạng số 09/CT-VKSKV15-HS ngày 29/10/2025 của VKSND Khu vực 15 – Lâm Đồng đã truy tố các bị cáo tội danh như sau:

- Truy tố bị cáo Trương Tấn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS; “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

- Truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

- Truy tố bị cáo Nguyễn Thị T1 về tội “Mua bán trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKSND Khu vực 15 – Lâm Đồng đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKSND Khu vực 15 – Lâm Đồng đã viện dẫn trong Cáo trạng.

Đại diện VKSND Khu vực 15 – Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Trương Tấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS; Bị cáo Nguyễn Thị T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo.

Đề nghị HĐXX:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Tấn L từ 02 năm tù đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từ 04 năm tù đến 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt theo quy định.

+ Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”.

+ Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 4,0207 gam heroine cùng 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ; 0,2181 gam Methamphetamine cùng 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng 01 đầu; 01 chai nước suối, có nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 lỗ tròn, một lỗ được cắm ống hút nước giải khát màu đỏ; 01 quẹt gas. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh; 01 điện thoại Iphone; 01 điện thoại OPPO A60 màu tím; 01 mô tô BKS 19P1-6289 cùng giấy đăng ký xe.

* Ý kiến của các bị cáo: Thống nhất với tội danh và điều luật mà VKSND Khu vực 15 – Lâm Đồng viện dẫn trong Cáo trạng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Vào tháng 05/2025, bị cáo Trương Tấn L mua từ một người không rõ nhân thân lai lịch 500.000đ ma tuý đá để sử dụng và 2.000.000đ heroine để bán lại kiếm lời. Ngày 11/05/2025, bị cáo L đã gọi điện thoại cho vợ là Nguyễn Thị T1 yêu cầu T1 lấy 01 chỉ Heroine đưa cho H để bán với giá 3.500.000đ, đồng thời L gọi điện thoại cho H yêu cầu H đến nhà mình gặp T1 để lấy ma tuý đi bán cho T3. Theo chỉ đạo của L, H đã gặp T1 lấy Heroine, và mang đến hẻm bê tông đường Trưng Trắc thuộc Tổ dân phố H T, phường L, tỉnh Lâm Đồng để giao ma tuý thì bị bắt quả tang thu giữ 4,0795 gam Heroine. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khám xét nhà của L và T1, thu giữ 0,2333 gam Methamphetamine và các vật chứng khác.

Tại Kết luận giám định số 524/KL-KTHS ngày 16/5/2025 của Phòng K, Công an tỉnh B cũ xác định:

- Một gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (7,5×4)cm, bên trong có chứa chất rắn màu trắng được ký hiệu là M1: Có khối lượng là 4,0795 gam, là Heroine.

- Một ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng 01 đầu, bên trong có chứa chất rắn màu nâu được ký hiệu là M2: Có khối lượng là 0,2333 gam, là Methamphetamine.

Bị cáo L là người mua Heroine tàng trữ để mua bán, nhận điện thoại, thoả thuận giá cả, yêu cầu T1 giao ma tuý cho H, yêu cầu H đi giao ma tuý cho người mua, cung cấp phương tiện để H đi giao ma tuý, đồng thời tàng trữ 0,2333 gam Methamphetamine để sử dụng. Bị cáo T1 là người lấy ma tuý giao cho H và báo giá để H đi giao cho người mua. Bị cáo H biết L bán ma tuý nhưng vẫn đồng ý đi giao ma tuý theo yêu cầu của L. Hành vi của các bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là chế độ quản lý của Nhà nước về chất Ma túy. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo L đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất Ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Hành vi của bị cáo T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 – Lâm Đồng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn. Bị cáo L là người khởi xướng và là người thực hành, bị cáo H, T1 là người thực hành.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H, T1 không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo L đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo biết rõ ma tuý là hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ điều này, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần phải dành cho các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với các bị cáo cũng như thông qua đó phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong vụ án, bị cáo L tham gia với vai trò chính và là người khởi xướng, đã hai lần bị kết án về hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất Ma tuý nhưng vẫn tiếp tục phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác.

Đối với lượng ma túy bị cáo L tàng trữ để sử dụng, quá trình điều tra xác định việc tàng trữ là hành động và ý thức chủ quan của riêng bị cáo L, bị cáo T1 không tham gia. Do đó, không xem xét xử lý đối với bị cáo T1 liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo L là phù hợp. Đối với việc L sử dụng ma tuý tại nhà, T1 và L là vợ chồng có đăng ký kết hôn, nơi sử dụng ma túy là nhà của hai bị cáo, nên không xem xét xử lý T1 đối với hành vi chứa chấp sử dụng trái phép chất ma tuý là phù hợp.

Đối với đối tượng bán ma túy cho L, hiện không xác định được nhân thân lai lịch nên không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đối với Nguyễn Hữu T4 là người đưa xe cho H đi giao ma tuý, quá trình điều tra xác định T4 không biết việc các bị cáo mua bán ma tuý, việc giao xe cho H là do L nhờ, do đó, không xem xét trách nhiệm của Nguyễn Hữu T4 là phù hợp.

Về vật chứng vụ án:

- 4,0207 gam Heroine (Mẫu M); 0,2181 gam Methamphetamine (Mẫu M) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ kích thước khoảng (7,5×4)cm; 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng 01 đầu; 01 chai nước suối, có nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 lỗ tròn, một lỗ được cắm ống hút nước giải khát màu đỏ; 01 quẹt gas. Đây là vật sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh của Nguyễn Minh H; 01 điện thoại OPPO A60 màu tím của Trương Tấn L; 01 điện thoại Iphone của Nguyễn Thị T1, đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với xe mô tô BKS 19P1-6289 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, bị cáo Trương Tấn L trình bày mua lại của một người không rõ nhân thân lai lịch và không lập giấy tờ mua bán. Ông Nguyễn Ngọc M là người đứng tên chủ sở hữu xác định đã bán cho người khác, không bị mất trộm. Bị cáo dùng xe để làm phương tiện giao ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 107.200.000đ và 01 điện thoại OPPO màu xanh đã được giao trả cho Nguyễn Thị T1, đây là tài sản của T1 không liên quan đến việc phạm tội nên việc giao trả lại cho bị cáo T1 là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Tấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Thị T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1.1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương Tấn L 02 (H1) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 04 (Bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 12/5/2025.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 12/5/2025.

1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T1 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 12/5/2025.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 4,0207 gam Heroine cùng 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ kích thước khoảng (7,5×4)cm được niêm phong trong phong bì số 524/1 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 0,2181 gam Methamphetamine cùng 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng 01 đầu được niêm phong trong phong bì số 524/2 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 chai nước suối, có nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 lỗ tròn, một lỗ được cắm ống hút nước giải khát màu đỏ; 01 quẹt gas.

Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh ngọc, màn hình trước bị nứt vỡ chứa sim số 0338074576, Imei 1: 866338040177377, Imei 2: 866338404177369; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu Gold, Imei 1: 355506721554175, Imei 2: 355506721540265; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A60 màu tím chứa sim số 0767028048, Imei 1: 867993072104217, Imei 2: 867993072104209; 01 xe mô tô màu xám đen, BKS 19P1-6289, số khung RLCS5C6308Y160305; Số máy 5C63-160305 và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 16P1-6289.

Tất cả Vật chứng hiện đang được Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 15 – Lâm Đồng quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 15 – Lâm Đồng.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Trương Tấn L, Nguyễn Minh H, Nguyễn Thị T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKSND tỉnh Lâm Đồng;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND Khu vực 15 – Lâm Đồng;

- CA tỉnh Lâm Đồng;

- CQTHAHS Công an tỉnh Lâm Đồng;

- Phân trại tạm giam Khu vực số 2;

- Những người tham gia tố tụng;

- THADS tỉnh Lâm Đồng;

- UBND địa phương bị cáo cư trú;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Thùy Trang THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Trang THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ