vanban.org

Bản án 64/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 27/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thanh C 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, tHnh phố L, tỉnh L giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi Hnh án hình sự Công an tỉnh L nhận được Quyết định thi Hnh án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Chương - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THNH PHỐ L
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST
Ngày: 27-6-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ L, TỈNH L

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Chí Sung

Ông Giàng A Chỉnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tHnh phố L, tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố L tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tHnh phố L, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2025/TLST - HS ngày 06/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 09/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thanh C (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 10 năm 1985, tại tỉnh L; Nơi cư trú: Tổ 2, phường Đ, tHnh phố L, tỉnh L; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn L, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1959; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; Con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 34/2017/HSST ngày 22/6/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh L áp dụng khoản 1 Điều 263, điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 BLHS năm 1999, xử phạt Trần Thanh C 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, về tội “Cố ý làm lộ bí mật NH nước” và buộc phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Ngày 22/12/2020, Trần Thanh C chấp Hnh xong hình phạt và đã nộp án phí nên đã được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/5/2025 tại phường Đ, tHnh phố L, tỉnh L, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

+ Anh D Văn T, sinh năm 1989 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại T: Chị Lê Thị H, sinh năm 1994 (vợ của bị hại).

Địa chỉ: Tổ 28, phường Đ, tHnh phố L, tỉnh L (vắng mặt có lý do).

* Người làm chứng:

+ Anh Trần Nam D, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Tổ 2, phường Đ, tHnh phố L, tỉnh L (vắng mặt có lý do).

+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Tổ 2, phường Đ, tHnh phố L, tỉnh L (vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 09/4/2025, Trần Thanh C (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest mang biển kiểm soát (BKS): 25A - 056.65 của Công ty TNHH Một tHnh viên Khánh Bảo L do C là người đại diện theo pháp luật đi từ trụ sở Công ty tại số nH 61, phố H Phong, thuộc tổ 15, phường Tân Phong, tHnh phố L theo đường Lê Duẩn để về nH ở tại tổ 2, phường Đ, tHnh phố L. Khoảng 21 giờ 35 phút cùng ngày, khi C đang điều khiển xe ô tô với tốc độ 67Km/h tại đoạn đường hai chiều trước cửa số nH 157, đường Lê Duẩn, tổ 1, phường Tân Phong, là đoạn đường dốc và khu vực đông dân cư (theo công văn số 233 ngày 23/5/2025 của Phòng KT, HT và đô thị UBND tHnh phố L) thì túi thơm để trên mặt taplo trong xe ô tô bị rơi xuống sàn xe tại vị trí C ngồi lái. Lúc này C không giảm tốc độ xe ô tô mà cúi xuống dùng tay để nhặt túi thơm, không quan sát trên đường đi. Khi C vừa nhặt được túi thơm và ngẩng mặt lên quan sát thì thấy anh D Văn T, sinh năm 1989, tạm trú tại tổ 28, phường Đ, tHnh phố L đang đi bộ ở vị trí phần đường xe chạy bên phải cùng chiều đi của C. Do khoảng cách của anh T chỉ cách ô tô khoảng một mét và C đang điều khiển xe ô tô với tốc độ 72Km/h nên khi C dẫm chân phanh thì xe ô tô không dừng lại được ngay mà đâm trực tiếp từ phía sau anh T khiến anh T bị hất văng về phía trước và rơi xuống đường, xe ô tô của C tiếp tục di chuyển khoảng 30 mét thì dừng lại. Sau khi anh T được người dân đưa đi cấp cứu thì C để xe ô tô BKS: 25A - 056.65 lại hiện trường rồi đi bộ đến nH anh Phạm Thế Hoan, sinh năm 1985, trú tại tổ 1, phường Tân Phong, tHnh phố L (gần hiện trường vụ tai nạn). Sau đó C gọi điện cho vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 đến đón C về trụ sở công ty Khánh Bảo L và gọi điện cho em trai ruột là Trần Nam D, sinh năm 1989, trú tại tổ 2, phường Đ, tHnh phố L đến tháo Camera Hnh trình trên xe ô tô để C đem giao nộp cho cơ quan Công an. Đến 06 giờ 30 phút sáng ngày 10/4/2025, C đến cơ quan Công an trình diện và khai báo toàn bộ Hnh vi phạm tội của bản thân, đồng thời giao nộp Camera Hnh trình trên xe ô tô BKS: 25A - 056.65 cho cơ quan Công an để phục vụ công tác điều tra.

Hậu quả: Anh D Văn T bị tH nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, sau đó chuyển xuống Bệnh viện Việt Đức tại tHnh phố H Nội để cấp cứu. Ngày 10/4/2025, anh T đã tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là khu vực đường Lê Duẩn thuộc tổ 1, phường Tân Phong, tHnh phố L, tỉnh L, là khu vực đông dân cư, có độ dốc khoảng 15% theo hướng từ huyện Tam Đường đi huyện Phong Thổ. Hiện trường là đoạn đường hai chiều, một chiều đi huyện Phong Thổ, một chiều đi huyện Tam Đường. Hiện trường đã bị xáo trộn trong quá trình đưa người bị nạn D Văn T đi cấp cứu. Quá trình khám nghiệm thống nhất: Lấy mốc cố định tại cột đèn đường trên vỉa hè giữa hai nH có số 150 - 152, cách mép đường là 1,8m (ký hiệu là A); Lấy mép đường bên phải theo chiều từ huyện Tam Đường đi huyện Phong Thổ (hướng đi của xe ô tô) làm mép đường chuẩn, (ký hiệu là B) xác định các vị trí như sau:

- Vị trí số 1: Một chiếc dép nhựa màu nâu, trên dép có dòng chữ “LV” nằm trên đường nhựa. Dép có kích thước (26x10)cm, trên thân dép có nhiều bụi bẩn đất bám dính. Vị trí 1 cách A là 1,7m, cách B là 0,15m.

- Vị trí số 2: Một chiếc dép nhựa màu nâu, trên dép có dòng chữ “LV” nằm trên vỉa hè đường. Dép có kích thước (26x10)cm, trên thân dép có nhiều bụi bẩn đất bám dính. Vị trí 2 cách A là 15,9m, cách B là 1,2m.

- Vị trí số 3: Một vết cà xước đứt đoạn trên nền bê tông, vết cà xước có kích thước (2,8x1,5)m. Đầu vết cách A là 21,2m, cách B là 0,23m.

- Vị trí số 4: Vết trượt + vết dung dịch màu nâu đỏ (nghi là máu) trượt trên mặt đường nhựa có kích thước 1,3m x 5cm. Đầu vị trí 4 cách A là 23,6m, cách B là 0,7m.

- Vị trí số 5: Một đám dung dịch màu nâu đỏ (nghi là máu) trên nền bê tông trước đường đi vào ngõ tổ dân phố số 1, phường Tân Phong, tHnh phố L có kích thước (0,6x0,6)m. Vị trí 5 cách A là 31,8m, tâm đám dung dịch màu nâu đỏ cách B là 0,6m.

- Vị trí số 6: xe ô tô BKS 25B - 056.65 đang dừng đỗ trên đường, đầu xe quay về hướng về huyện Phong Thổ, đuôi xe quay về hướng về huyện Tam Đường. Nắp cabo xe bị móp méo trên diện kích thước (0,6x0,9)m, phần ốp nhựa đèn bên phụ bị vỡ trên diện kích thước (0,42x0,3)m, đèn gầm phá sương bên phụ gẫy vỡ, bung bật rời khỏi vị trí ban đầu. Trục trước xe ô tô cách A là 31,8m, cách B là 3,6m. Trục sau xe ô tô cách A là 30,1m, cách B là 3,37m

Kết quả khám nghiệm xe ô tô mang BKS 25A - 056.65 do Trần Thanh C điều khiển xác định: Nắp capo bên lái móp méo, cong, vênh kích thước dài 1,05m, rộng 70cm, trên diện móp, méo, cong vênh có 01 đám bong tróc sơn kích thước dài 17cm, rộng 23cm; Nhựa bảo vệ cụm đèn pha bên phụ vỡ, nứt; Cụm đèn phá sương bên phụ bung chốt.

Kết quả kiểm tra thẻ nhớ của camera Hnh trình xác định thời điểm trước khi xảy ra va chạm giao thông với anh D Văn T thì Trần Thanh C điều khiển ô tô BKS: 25A - 056.65 đi với tốc độ 72Km/h.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 19/KLGĐTT-TTPYLC ngày 23/4/2025 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh L, kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Vùng thái D bên phải có vết tH kích thước: Dài 5cm, rộng 2cm.

- Vùng góc Hm bên phải có vết trượt da kích thước: Dài 9,2cm, rộng 5cm.

- Vùng cổ bên trái, bên phải và vùng gáy tụ máu lan rộng.

- Nửa trên bụng có một đám trợt da kích thước trên diện: Dài 34cm, rộng 18 cm, kéo dài lên mạn sườn phải, bụng chướng nhẹ.

- Xuất huyết dưới nhện lan tỏa toàn bộ bán cầu đại não hai bên, tập trung nhiều nhất ở vùng thái D hai bên và vùng chẩm; Tụ máu não thất số lượng nhiều, tụ máu hai bên tiểu não và vùng thân não.

- Tổ chức cân cơ dưới da vùng cổ, gáy bầm tụ máu lan rộng, gãy liên đốt sống cổ 1, 2.

- Trong ổ bụng có 1 lít dịch màu đỏ máu. Mạc nối lớn bị bầm tụ máu lan rộng. Đứt hoàn toàn cuống thận phải.

2. Kết luận: Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu và khám nghiệm tử thi

2.1. Kết luận nguyên nhân chết: Suy hô hấp, trụy tuần hoàn do đa chấn tH/ Chấn tH sọ não tụ máu não thất, tiểu não và thân não, đứt cuống thận phải dẫn đến tử vong.

2.2. Kết luận khác:

- Thời gian chết: Tính đến thời điểm giám định tử thi trong khoảng 8 giờ đến 10 giờ.

Tại bản kết luận giám định số 409/KL-KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận:

- Không phát hiện dấu hiệu cắt, ghép chỉnh sửa trong 02 tập tin video gửi giám định.

- Không xác định được tốc độ xe ô tô BKS: 25A-056.65 trong tập tin video tên 2025_04_09_143332_00 trước khi xảy ra tai nạn.

Kết quả xét nghiệm định lượng Ethanol (cồn) trong máu và kết quả test ma túy của Trần Thanh C xác định: Không phát hiện Ethanol (cồn); Âm tính với ma túy.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, tài liệu của Trần Thanh C: 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại: EVEREST, BKS: 25A-056.65, số máy: YNWSRNB49998, số khung: MNCRXXMAWRNB49998; 01 camera Hnh trình nhãn hiệu VIETMAP TS-2K, loại Sony starvis, model: TS-2K, S/N: TS2K22100862 màu đen, gắn thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston 32GB màu đen; 01 giấy phép lái xe hạng B2, số: 120130003596, mang tên: Trần Thanh C, có giá trị đến ngày 21/12/2025. Đối với các vật chứng nêu trên, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi Hnh án nên đã trả lại cho Trần Thanh C.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị H đại diện cho bị hại D Văn T cùng gia đình đã nhận được bồi thường nên không yêu cầu gì thêm.

Cáo trạng số 32/CT- VKSTP, ngày 06/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố L đã truy tố Trần Thanh C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố L giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Thanh C mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.

- Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự.

- Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại D Văn T tổng số tiền 1.500.000.000 đồng và tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại D Văn T là chị Lê Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.

- Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại: EVEREST, BKS: 25A-056.65, số máy: YNWSRNB49998, số khung: MNCRXXMAWRNB49998; 01 camera Hnh trình nhãn hiệu VIETMAP TS-2K, loại Sony starvis, model: TS-2K, S/N: TS2K22100862 màu đen, gắn thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston 32GB màu đen; 01 giấy phép lái xe hạng B2, số: 120130003596, mang tên: Trần Thanh C, có giá trị đến ngày 21/12/2025. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại cho Trần Thanh C, nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trần Thanh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh C khai nhận Hnh vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được Hnh vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ Hnh vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện Hnh vi phạm tội, cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 35 phút ngày 09/4/2025, tại đoạn đường hai chiều trước cửa số nH 157, đường Lê Duẩn, tổ 1, phường Tân Phong, tHnh phố L, tỉnh L, Trần Thanh C (có giấy phép lái xe theo quy định) đã có Hnh vi điều khiển xe ô tô Ford Everest BKS 25A - 056.65 không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn tại đoạn đường dốc và khu vực đông dân cư, điều khiển xe ô tô vượt quá tốc độ cho phép 22km/h nên đã đâm trực tiếp từ phía sau anh D Văn T đang đi bộ ở vị trí phần đường xe chạy bên phải cùng chiều đi của C. Hậu quả: Anh T bị tH nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L rồi chuyển đến Bệnh viện Việt Đức H Nội. Ngày 10/4/2025 anh T tử vong. Do vậy, Hnh vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu tHnh tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người; [...]

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm Hnh nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố L truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của Hnh vi phạm tội thì thấy:

Xét vụ án có tính chất nghiêm trọng, Hnh vi phạm tội của bị cáo Trần Thanh C gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định của NH nước về an toàn giao thông đường bộ, làm ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường của các pH tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến sức khoẻ, tài sản của người khác, làm mất trật tự, trị an trên địa bàn. Bị cáo tham gia giao thông nhưng không chấp Hnh quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ đã vi phạm quy định tại điểm d, e khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 và khoản 1 Điều 6 Thông tư 38/2024/ TT

- BGTVT ngày 15/11/2024 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ.

“Điều 12. Chấp Hnh quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe [...]

3. Người điều khiển pH tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây: [...]

d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường hẹp, đường vòng, đường quanh co, đường đèo, dốc; [...]

e) Khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung đông người, khu vực đông dân cư, chợ, khu vực đang thi công trên đường bộ, hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ; [...]”.

“Điều 6. Tốc độ khai thác tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông trên đường bộ (trừ đường cao tốc)

1. Tốc độ khai thác tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông trên đường bộ trong khu vực đông dân cư

Loại xe cơ giới đường bộ

Tốc độ khai thác tối đa (km/h)

Đường đôi; đường

Đường hai chiều;

một chiều có từ hai

đường một chiều

làn xe cơ giới trở lên

có một làn xe cơ

giới Các loại xe cơ giới, trừ các xe được quy

60

50 định tại Điều 7 và Điều 8 Thông tư này

nhưng bản thân bị cáo do chủ quan, cho rằng hậu quả do Hnh vi vi phạm của mình sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Bản thân bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra. Xét về lỗi thì bị cáo phạm tội với lỗi vô ý.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên bị cáo đã 01 lần bị Tòa án xét xử về tội “Cố ý làm lộ bí mật NH nước”, hiện đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về Hnh vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện của bị hại D Văn T 1.500.000.000 đồng và đại diện bị hại T có đơn đề nghị không khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, năm 2016 bị cáo được Chủ tịch UBND tỉnh L tặng Bằng khen, năm 2015 bị cáo được Trưởng khối thi đua các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc tặng Giấy khen; Bị cáo có bố đẻ là ông Trần Văn Lương năm 2005 được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tặng Kỷ niệm C vì sự nghiệp Tòa án, năm 2009 được Chủ tịch UBND tỉnh L tặng Bằng khen. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm do Hnh vi phạm tội của bị cáo gây ra cùng với nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, hơn nữa bị hại cũng có lỗi khi đi bộ không đi sát mép đường, phần đường giành cho người đi bộ, nên cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở tHnh công dân có ích cho xã hội.

Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo còn phải nuôi 3 con ăn học và nuôi mẹ đẻ của bị cáo và còn phải có trách nhiệm với các con của bị hại. Do đó, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Thanh C theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại: EVEREST, BKS: 25A-056.65, số máy: YNWSRNB49998, số khung: MNCRXXMAWRNB49998; 01 camera Hnh trình nhãn hiệu VIETMAP TS-2K, loại Sony starvis, model: TS-2K, S/N: TS2K22100862 màu đen, gắn thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston 32GB màu đen; 01 giấy phép lái xe hạng B2, số: 120130003596, mang tên: Trần Thanh C, có giá trị đến ngày 21/12/2025. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tHnh phố L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho cho Trần Thanh C, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn điều tra Bị cáo Trần Thanh C đã tự nguyện bồi thường cho cho gia đình bị hại D Văn T tổng số tiền 1.500.000.000 đồng và tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại D Văn T là chị Lê Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố L là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trần Thanh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Thanh C 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, tHnh phố L, tỉnh L giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi Hnh án hình sự Công an tỉnh L nhận được Quyết định thi Hnh án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Thanh C.

[3] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ