- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đ phạm tội vi phạm ATGT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? [1] Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2025/HS-ST Ngày: 18-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Hoa
2. Bà Nguyễn Thị Lại
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Tuyên- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/TLST- HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Tân Lập, xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Trần Văn Thương; Con bà: Hồ Thị Hậu; Gia đình có 08 anh em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị Bảy; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện tại ngoại (có mặt).
* Bị hại: Anh Vũ Công T, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Người đại diện của bị hại: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Đều cư trú: Xóm Bến, xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Thanh T, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố Yên Ninh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đài Sơn, xã Minh Đức, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Văn Đ có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 27/01/2021. Khoảng 22 giờ ngày 03/9/2024, Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu sơn trắng, biển kiểm soát 36C- 368.87 đi từ công trình sơn xây dựng ở tổ dân phố Chằm, phường Tăng tiến, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang về Nhà nghỉ Hoài An ở tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang thuê phòng để nghỉ qua đêm. Khi đến gần khu vực trước cửa nhà nghỉ, Đ đỗ xe ở dưới đường bên phải của đường nội thị trong Khu đô thị mới thuộc tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đầu xe hướng về phía thành phố Bắc Ninh, đuôi xe hướng thành phố Bắc Giang rồi tắt máy xuống xe nhưng Đ không bật đèn tín hiệu cảnh báo, không đặt cảnh báo ở phía trước và phía sau xe ô tô rồi đi vào Nhà nghỉ Hoài An thuê phòng ngủ. Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 04/9/2024, anh Vũ Công T- sinh năm 1992, trú tại xóm Bến, xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu sơn xanh- xám- đen, biển kiểm soát 18F1- 477.19 đi trên đường nội thị Khu đô thị Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên hướng Bắc Giang đi Bắc Ninh đi từ phía sau xe ô tô đi đến không phát hiện xe ô tô đang đỗ ở lòng đường nên đầu tay phanh và tay nắm bên phải, cánh yếm bên phải, bệ để chân trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 477.19 do anh Vũ Công T đã va chạm với cụm đèn hậu bên trái, mặt ngoài bên trái cản sau, chắn bùn bánh sau bên trái và má lốp bánh sau bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87 của Trần Văn Đ đang đỗ ở rìa đường. Sau va chạm giao thông, anh T bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Quân y 110- Bắc Ninh, chuyển đến cấp cứu, điều trị thương tích Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; 02 phương tiện bị hư hỏng.
Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Đội Cảnh sát giao thông- Công an thị xã Việt Yên đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ tại nạn, tạm giữ hai phương tiện. Đến ngày 26/9/2024, sau xác minh thu thập tài liệu, xác định tình trạng thương tích của anh Vũ Công T gồm: Dập não xuất huyết vùng trán hai bên và thái dương phải; tụ máu dưới màng cứng sau mổ sọ não; đang hôn mê, mở sọ não bán cầu phải, thở máy, Đội Cảnh sát giao thông- Công an thị xã Việt Yên đã chuyển tin báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã Việt Yên để giải quyết theo quy định. Cơ quan điều tra đã tiến hành dựng lại hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn; trưng cầu giám định thương tích, trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông, kết quả như sau:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường và hiện trường dựng lại: Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đường nội thị trong khu đô thị mới thuộc tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa và đổ bê tông thẳng rộng 11m, hai bên đường là bãi đất và nhà dân. Phải trái hiện trường tính theo chiều đi thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh, lấy cột đèn số (1.2)1KDMNK bên trái đường làm mốc và lấy mép đường bên phải làm chuẩn để xác định vị trí mô tả dấu vết phương tiện, được đánh số thứ tự ký hiệu: (1) là xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87; (2) là vết cầy kích thước (0,86x0,01)m; (3) là xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 477.19; (4) là bãi mảnh nhựa vỡ kích thước (1,2x1)m; (5) là bãi máu kích thước (1,4x1,2)m.
- (1) Là xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87, đỗ trên mặt đường, đầu xe quy hướng thành phố Bắc Ninh, đuôi xe hướng thành phố Bắc Giang; trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải là 1,3m; trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải là 1,05m.
- (2) Là vết cầy kích thước (0,86x0,01)m, tâm đầu vết cầy cách mép đường bên phải 3,75m và cách trục bánh sau bên trái của xe ô tô 36C- 368.87 là 1,15m; tâm cuối vết cầy nằm dưới vị trí đầu để chân sau bên trái của xe mô tô 18F1- 477.19 và cách mép đường bên phải là 3,96m.
- (3) Là xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 477.19, đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe hướng thành phố Bắc Ninh, đuôi xe hướng thành phố Bắc Giang; trục bánh trước cách mép đường bên phải 3,78m; trục bánh sau cách mép đường bên phải 3,94m và cách trục bánh sau bên phải của xe ô tô 36C- 368.87 là 1,21m.
- (4) Là bãi mảnh nhựa vỡ kích thước (1,2x01)m, tâm cách mép đường bên phải 3,1m và cách trục bánh sau bên trái của xe ô tô 36C- 368.87 là 1m; khoảng cách từ tâm bãi mảnh nhựa vỡ số (4) đến tâm đầu vết cầy số (2) là 0,80m.
- (5) Là bãi máu kích thước (1,4x1,2)m, tâm bãi máu cách mép đường bên phải 5,1m và cách trục bánh trước của xe mô tô 18F1- 477.19 là 1,3m.
- Tại hiện trường phía sau xe ô tô 36C- 368.87 hướng thành phố Bắc Giang có đống đá phần nằm trên mặt đường kích thước (1,5x0,8)m, tâm cách trục bánh sau bên phải của xe ô tô 36C- 368.87 là 3,0m.
- Khoảng cách 27,4m tính từ trục bánh sau bên trái của xe ô tô 36C- 368.87 đến chân cột đèn (1.2)1KDMNK bên trái đường được xác định là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông. (Bút lục 29-45)
* Kết quả khám xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu sơn trắng, biển kiểm soát 36C- 368.87:
- Đèn hậu phía sau bên phải để lại vết tỳ nén, nứt vỡ nhựa kích thước (0,31x0,24)m, tâm cao cách đất 01m.
- Góc bên trái ba đờ sốc phía sau để lại vết mài sát mòn sơn, bám dính tạp chất mầu đen kích thước (0,07x0,01)m; tâm cao cách đất 0,65m.
- Mặt ngoài hông xe bên trái để lại vết mài sát, mòn sơn kích thước (0,65x0,01)m; tâm cao cách đất 0,85m.
- Mặt ngoài chắn bùn phía sau bên trái để lại vết tỳ nén, mài sát cao su kích thước (0,14x0,07)m; tâm cao cách đất 0,28m.
- Mặt ngoài má lốp sau bên trái để lại vết mài sát cao su kích thước (0,0x0,09)m; tâm cao cách đất 0,48m. (Bút lục 46-54, 62-63).
* Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu xanh- xám- đen, biển kiểm soát 18F1- 477.19:
- Đầu tay phanh bên phải bị mài sát, bám dính tạp chất màu đen kích thước (0,02x0,01)m; tâm cao cách đất 0,99m.
- Đầu tay lái bên phải để lại vết mài sát cao su kích thước (0,02x0,02)m; tâm cao cách đất 1,02m.
- Mặt ngoài cánh yếm bên phải để lại vết mài sát mòn nhựa kích thước (0,1x0,06)m; tâm cao cách đất 0,66m.
- Má lốp bên phải bánh lốp trước để lại vết mài sát cao su kích thước (0,07x0,03)m; tâm cao cách đất 0,12m.
- Bậc để chân bên phải để lại vết tỳ nén bẹp méo, nứt vỡ nhựa kích thước (0,52x0,21)m; tâm cao cách đất 0,24m. (Bút lục 55-61, 64-65)
Ngày 15/10/2024, Cơ quan CSĐT- Công an thị xã Việt Yên đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn trên. Tại Kết luận giám định 2316/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
- Dấu vết gãy vỡ, trượt xước nhựa tại cụm đèn hậu bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 6, 7 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt kim loại, nhựa, cao su tại đầu tay phanh và tay nắm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 477.19, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 5, 6, 7, 8 bản ảnh khám phương tiện).
+ Dấu vết trượt xước sơn, bám dính chất màu xanh tại mặt ngoài bên trái cản sau của xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 8 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt sơn, nhựa tại cánh yếm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 477.19, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 9, 10 bản ảnh khám phương tiện).
+ Dấu vết mài sát cao su tại bùn bánh sau bên trái và má ngoài lốp sau bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87, có chiều hướng từ sau ra trước, từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 10, 11 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với vết vết săng, gãy gãy, mài sát nhựa, kim loại, Bám chất màu đen tại bệ để chân trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 477.19, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 12, 13 bản ảnh khám phương tiện).
- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 477.19 với xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết xước ký hiệu số 2 (trong dấu vết mảnh nhựa vỡ ký hiệu số 4), thuộc chuyển động bên phải theo hướng thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh (khi chia mặt đường thành hai phần bằng nhau).
- Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 477.19 chuyển động theo hướng thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh va chạm xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87 ở phía trước, cùng chiều.
- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Tại Hồ sơ bệnh án số BH-54448 ngày 08/10/2024 của Bệnh viện Quân y 108-Bộ Quốc phòng xác định anh Vũ Công T vào viện lúc 05 giờ 26 phút ngày 04/9/2024, ra viện lúc 07 giờ ngày 08/10/2024 với chuẩn đoán: Hôn mê sâu do chấn thương sọ não nặng- máu tụ dưới màng cứng bán cầu phải, dập não xuất huyết trán hai bên, xuất huyết dưới nhện do tai nạn giao thông đã phẫu thuật mở sọ, mở khí quản.
Ngày 19/11/2024, Cơ quan CSĐT- Công an thị xã Việt Yên đã trưng cầu Viện pháp y Quân đội giám định tỷ lệ thương tích của anh Vũ Công T, xác định cơ chế hình thành thương tích trên cơ thể anh Vũ Công T. Tại Kết luận giám định số 37/KLTTCT-PY ngày 21/11/2024 của Viện pháp y Quân đội kết luận anh Vũ Công T bị thương tích: Vỡ xương chẩm bên trái, tỷ lệ 5%; Vỡ thành sau xoang bướm bên trái (nền sọ), tỷ lệ 16%; Khuyêt xương sọ trán thái dương đỉnh phải, tỷ lệ 41%; Máu tụ dưới màng cứng bán cầu phải đã điều trị còn ổ dịch, tỷ lệ 16%; Chảy máu dưới màng nhện đã điều trị, không còn tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh, tỷ lệ 8%; Ổ dập não vùng trán hai bên và thái dương phải đã điều trị còn ổ dịch, tỷ lệ 21%; Liệt tứ chi, tỷ lệ 61%; Sẹo vết thương vùng chẩm kích thước (2x1,5)cm, tỷ lệ 1%; Mở khí quản, tỷ lệ 3%; Sẹo phẫu thuật trán thái dương đỉnh phải, tỷ lệ 2%; Sẹo vùng gối trái, tỷ lệ 1%; Móng chân ngón II bàn chân phải đổi màu nâu đen, sần sùi, tỷ lệ 1%; Các vết sây sát da đóng vảy trên thành ngực trái, tỷ lệ 3%; 01 vết sẹo mặt ngoài 1/3 dưới cẳng tay phải, tỷ lệ 2%; 01 vết sẹo mặt mu liên đốt 1- 2 ngón V tay phải, tỷ lệ 1%; 01 vết sẹo mặt trong 1/3 dưới đùi phải, tỷ lệ 1%; 01 vết sẹo mặt mu ngón II bàn chân phải, tỷ lệ 1%. Tỷ lệ thương tích hiện tại của anh Vũ Công T là 90%. Các thương tích trên cơ thể của Vũ Công T do va chạm với vật tày diện rộng.
Ngày 04/9/2024, Công an thị xã Viêt Yên đã đề nghị Bệnh viên Quân y 110 tiến hành lấy mẫu máu của anh Vũ Công T để xét nghiệm nồng độ cồn trong máu. Tại kết quả xét nghiệm sinh hóa ngày 07/9/2024 của Trung tâm y tế thị xã Việt Yên đối với anh Vũ Công T, xác định định lượng Ethanol (cồn) trong máu của anh T là 230.5mg/dl.
Ngày 05/02/2025, Cơ quan điều tra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên định giá xác định giá trị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87 và xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 477.19. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 09/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên kết luận: Các bộ phận bị hư hỏng xe ô tô 36C-368.87 có tổng giá trị 2.000.000 đồng; Các bộ phận bị hư hỏng xe mô tô 18F1-477.19 có tổng trị giá 780.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 19/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đ, sau khi phân tích tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 4 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 năm 4 tháng đến 02 năm 8 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đ cho UBND xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn Đ.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;
Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đ đã khai nhận rõ hành vi của mình như cáo trạng đã nêu và nhận thức được việc làm của mình là sai, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội đi làm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Việt Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa Bị hại; Người đại diện của bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai đầy đủ nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại Điều 292, Điều 293; Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn Đ tại phiên tòa hôm nay phù hợp lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, vật chứng thu giữ và kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 03/9/2024, tại khu vực đường nội bộ trong Khu đô thị mới thuộc tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Trần Văn Đ (có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) đã điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu sơn trắng, biển kiểm soát 36C- 368.87 đỗ trên làn đường xe chạy theo hướng đi từ thành phố Bắc Giang đi thành phố Bắc Ninh, lấn chiếm một phần đường xe chạy, không bật đèn tín hiệu cảnh báo, không đặt cảnh báo ở phía trước và phía sau xe ô tô rồi đi vào Nhà nghỉ Hoài An thuê phòng ngủ (đã vi phạm điểm a, điểm d khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ). Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 04/9/2024, anh Vũ Công T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu sơn xanh- xám- đen, biển kiểm soát 18F1- 477.19 đi trên đường nội thị Khu đô thị Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên đi từ phía sau đến không chú ý quan sát, không phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 36C- 368.87 đang đỗ ở lòng đường nên đầu tay phanh, tay nắm bên phải, cánh yếm bên phải, bệ để chân trước bên phải xe mô tô của anh T đã va chạm với cụm đèn hậu bên trái, mặt ngoài bên trái cản sau, chắn bùn bánh sau bên trái, má lốp bánh sau bên trái xe ô tô của Đ đang đỗ ở rìa đường. Hậu quả làm anh T bị thương tích chấn thương sọ não, máu tụ dưới màng cứng bán cầu phải, dập não xuất huyết trán hai bên, xuất huyết dưới nhện, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 90%.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Đ đã đủ tuổi đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Đ đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ.
Xét mức độ lỗi trong vụ án thì thấy: Trong vụ án này lỗi do bị cáo khi đỗ xe đã lấn chiếm một phần đường xe chạy, không bật đèn tín hiệu cảnh báo, không đặt cảnh báo ở phía trước và phía sau xe ô tô đã vi phạm quy định tại điểm a, điểm d khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ; lỗi do bị hại khi tham gia giao thông có nồng độ cồn, thiếu chú ý quan sát vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.
Về nhân thân: Bị cáo Đ có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho người bị hại xong phần dân sự và được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Đ không có.
Với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ lỗi của bị cáo, hậu quả của hành vi của bị cáo gây ra cùng với tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như nêu trên, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội với lỗi vô ý, bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại được đại diện hợp pháp bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần bắt bị cáo chịu hình phạt tù, cho hưởng án treo thì bị cáo cũng có thể tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao sửa đổi bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.
Xét mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Đ là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự về việc người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề giao thông vận tải, xét thấy bị cáo nghề nghiệp tự do, không hành nghề giao thông vận tải, là lao động chính trong gia đình nên không cần phạt bổ sung cấm hành nghề giao thông vận tải đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Đ đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường xong phần dân sự cho gia đình bị hại anh Vũ Công T số tiền 200.000.000 đồng (bao gồm chi phí điều trị, tổn thất sức khoẻ tinh thần và các khoản chi phí khác). Đến nay, anh T và đại diện hợp pháp của anh T đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe xe ô tô biển kiểm soát 36C-368.87 xác định là tài sản của Trần Văn Đ; 01 xe mô tô biển kiểm soát 18F1- 77.19 xác định là của tài sản của anh Đặng Thanh T- sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố Yên Ninh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (anh T là bạn cùng làm với anh T) đã cho anh T mượn đi có việc chiều ngày 03/9/2024 nên Cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc xe trên cho bị cáo Đ và anh T; đối với 02 chiếc xe bị hư hỏng không ai yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại; Người đại diện của bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 18/4/2025.
Giao bị cáo Trần Văn Đ cho UBND xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn Đ.
[2] Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;
Buộc bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại; Người đại diện của bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án. Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bắc Giang;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- VKSND thị xã Việt Yên;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
- Chi cục THADS thị xã Việt Yên;
- Bị cáo; Bị hại; NĐD bị hại;
- NCQLNVLQ vắng mặt;
Nguyễn Thị Vân
- Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Vân
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND thị xã Việt Yên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS thị xã Việt Yên; - Bị cáo; Bị hại; NĐDHP bị hại; - NCQLNVLQ vắng mặt; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vân |