vanban.org

Bản án 64/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bồ Thị Ngọc G về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với bị đơn và ông Nguyễn Thanh L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L. 2. Về con chung: Bà Bồ Thị Ngọc G là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung tên Nguyễn Thanh Bảo N sinh ngày 27/04/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bồ Thị Ngọc G về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với bị đơn và ông Nguyễn Thanh L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:64/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22-9-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.

Ông Đặng Minh Lý.

2.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 07 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bồ Thị Ngọc G, sinh năm 1993; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 11/04/2021. Địa chỉ: Tổ A, Ấp M, xã B, B, Bình Dương. (nay là phường B, thành phố Hồ Chí Minh); có mặt

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1989, Số CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 21/04/2021; Địa chỉ: Số B Tổ E khu I, phường P, TP ., Bình Dương. (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Bồ Thị Ngọc G trình bày: Bà Bồ Thị Ngọc G và ông Nguyễn Thanh L, tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, Thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2023 ngày 27/3/2023. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu rất hạnh phúc, tuy nhiên những năm gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do giữa vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi và không còn có tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng giờ đây không còn tình cảm và không còn muốn sống chung cùng nhau, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân với nhau ông Nguyễn Thanh L không quan tâm gì đến gia đình. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thanh Bảo N sinh ngày 27/04/2023.

Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bồ Thị Ngọc G yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Bồ Thị Ngọc G yêu cầu Tòa án cho cho bà G được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thanh Bảo N sinh ngày 27/04/2023.

Về cấp dưỡng con chung: Bà Bồ Thị Ngọc G yêu cầu ông Nguyễn Thanh L cấp dưỡng nuôi con chung là 6.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; Nay bà G rút yêu cầu khởi kiện cấp dưỡng đối với ông L.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Thanh L trình bày: Quá trình tố tụng giải quyết Tòa án ban hành thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển giao tài liệu, chứng cứ nguyên đơn khởi kiện, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và bị đơn ông Nguyễn Thanh L không đến Tòa án cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 09/9/2025 Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ nhất ông L đến Tòa xin hoãn phiên tòa để có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa hai bên.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng

Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì thêm.

Về việc giải quyết vụ án: Về nội dung, căn cứ theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bồ Thị Ngọc G được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Bà Bồ Thị Ngọc Giàu C đơn xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với ông Nguyễn Thanh L. Như vậy, quan hệ pháp luật là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà Bồ Thị Ngọc G và ông Nguyễn Thanh L, tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, Thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2023 ngày 27/3/2023 đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà Bồ Thị Ngọc G cho rằng cuộc sống vợ chồng thời gian đầu rất hạnh phúc, tuy nhiên những năm gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do giữa vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi và không còn có tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng giờ đây không còn tình cảm và không còn muốn sống chung cùng nhau, bà G và ông L đã sống ly thân với nhau, không quan tâm gì đến gia đình. Quá trình tố tụng giải quyết Tòa án ban hành thông báo về phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, bị đơn ông Nguyễn Thanh L không đến Tòa án cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 09/9/2025 Tòa án mở phiên tòa xét xử ông L đến Tòa xin hoãn phiên tòa để có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa hai bên.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay Bà Bồ Thị Ngọc G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông Nguyễn Thanh L không chứng minh được tình cảm vợ chồng vẫn còn. Xét thấy vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và hai vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bồ Thị Ngọc G yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L là có căn cứ, đúng theo quy định tại theo Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà Bồ Thị Ngọc G và ông Nguyễn Thanh L có 01 con chung là Nguyễn Thanh Bảo N sinh ngày 27/04/2023. Sau khi ly hôn, bà Bồ Thị Ngọc G yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thanh Bảo N.

Xét thấy, hiện cháu N đang sinh sống cùng với bà G, ông L không có ý kiến gì đối với yêu cầu được nuôi con của bà G, để ổn định cho sự phát triển của cháu Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ đảm bảo sự phát triển cho cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bồ Thị Ngọc Giàu C đơn rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Bồ Thị Ngọc G phải nộp theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bồ Thị Ngọc G về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với bị đơn và ông Nguyễn Thanh L.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

1.2. Về con chung: Bà Bồ Thị Ngọc G là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung tên Nguyễn Thanh Bảo N sinh ngày 27/04/2023.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ yêu cầu xét cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Bồ Thị Ngọc G nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tạm ứng trước đây theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002003 ngày 04/07/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ