vanban.org

Bản án 64/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 12/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thu H 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 01 năm 2024. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 68MT/PC09 - CATP Hải Phòng bên trong là ma tuý cò… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN KIẾN AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST
Ngày 12-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Hải Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Anh Tuấn

Bà Trần Thị Trúc Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Thị Thu H, sinh ngày 24 tháng 6 năm 1990 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Tổ 6, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Phạm Thị N; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16 tháng 01 năm 2024 tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 14 giờ ngày 15/01/2024, Bùi Thị Thu H đi xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 15B2-514.40 đến khu vực đường tàu Mê Linh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng mua 700.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông không quen biết. Người đàn ông này đưa cho H 01 cuộn giấy mềm, bên trong có 02 túi nilon màu trắng chứa ma túy đá. H cất giữ ma túy ở lòng bàn tay phải, rồi đi về. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H đi xe mô tô đến khu vực cổng chợ B thuộc phường T, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác Công an quận K phối hợp cùng Công an phường T phát hiện kiểm tra. Do sợ bị phát hiện, H đã bỏ chạy và đưa cuộn giấy mềm chứa ma túy vào trong miệng và nuốt. Ngay sau đó, tổ công tác tiến hành dẫn giải H cùng người chứng kiến Lưu Bảo N (sinh năm 1995; trú tại số 34/45/132 đường H, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng) đến Bệnh viện K để làm thủ tục gắp cuộn giấy mềm chứa ma túy trên ra khỏi dạ dày H. Tiến hành mở cuộn giấy nêu trên, Cơ quan công an phát hiện bên trong có 02 túi nilon màu trắng, khóa mép màu đỏ (kích thước 2x2cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) và tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng. Ngoài ra, còn thu giữ của H 01 xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 15B2-514.40, 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Bùi Thị Thu H, 01 điện thoại Samsung Galaxy S7, 01 điện thoại Iphone, 01 túi đeo màu đen bên trong có 01 bộ sạc điện thoại, 01 thẻ ngân hàng Sacombank mang tên BUI THI THU H, 01 thẻ ngân hàng ACB mang tên NGUYEN GIANG N và số tiền 3.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 16/KL – KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,87 gam, là loại Methamphetamine. Đối tượng dương tính với chất ma túy Methamphetamine”.

Tại cơ quan điều tra Bùi Thị Thu H khai nhận phù hợp nội dung như trên. Mục đích H cất giữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân. Số tiền H dùng để mua ma túy là do H lao động mà có. Khi bị Cơ quan Công an phát hiện thì H đã nuốt gói ma túy vào trong bụng và đã được các bác sĩ tại bệnh viện Kiến An gắp gói ma túy ra. Nguồn gốc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 15B2-514.40, H mượn của mẹ đẻ là bà Phạm Thị N, sinh năm: 1963, trú tại tổ 6, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng để làm phương tiện đi lại. Bà N không biết và không liên quan đến việc H mua và tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy thu giữ còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì của được niêm phong trong 01 bì thư đóng dấu niêm phong số 68MT/PC09 - CATP Hải Phòng; 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Bùi Thị Thu H, 01 điện thoại Samsung Galaxy S7, 01 điện thoại Iphone, 01 túi đeo màu đen bên trong có 01 bộ sạc điện thoại, 01 thẻ ngân hàng Sacombank mang tên BUI THI THU H và số tiền 3.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận K quản lý.

Bản Cáo trạng số 57/CT-VKSKA ngày 06 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố Bùi Thị Thu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…c) …Methamphetamine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Bùi Thị Thu H khai nhận hành vi và thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Thị Thu H như nội dung bản Cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị Thu H từ 30 (Ba mươi) tháng tù đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 68MT/PC09 - CATP Hải Phòng bên trong là ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói. Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Bùi Thị Thu H 01 thẻ ngân hàng Sacombank mang tên BUI THI THU H và số tiền 3.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy S7, 01 điện thoại Iphone, 01 túi đeo màu đen bên trong có 01 bộ sạc điện thoại.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hạnh tại đường tàu Mê Linh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Kiến An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Thị Thu H đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,87 gam, là loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang vào ngày 15/01/2024. Với hành vi trên bị cáo Bùi Thị Thu H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy được Nhà nước bảo vệ. Vì vậy cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo.

- Về hình phạt:

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Bùi Thị Thu H và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma tuý cùng các vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, cấm sử dụng trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Bùi Thị Thu H; 01 thẻ ngân hàng Sacombank mang tên BUI THI THU H và số tiền 3.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy S7, 01 điện thoại Iphone, 01 túi đeo màu đen bên trong có 01 bộ sạc điện thoại là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Về các nội dung khác:

Đối với 01 thẻ ngân hàng ACB mang tên NGUYEN GIANG N: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An đã ban hành Yêu cầu Ngân hàng Thương mại cổ phần A cung cấp thông tin về chủ tài khoản nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản trả lời. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An tách ra, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 15B2-514.40. Qua xác minh, xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Phạm Thị N. Kết quả giám định không bị tẩy xóa, đóng lại số khung, số máy. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho bà Phạm Thị N là có căn cứ.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H tại đường tàu Mê Linh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thu H 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 01 năm 2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 68MT/PC09 - CATP Hải Phòng bên trong là ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói. Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Bùi Thị Thu H 01 thẻ ngân hàng Sacombank mang tên BUI THI THU H và số tiền 3.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy S7, 01 điện thoại Iphone, 01 túi đeo màu đen bên trong có 01 bộ sạc điện thoại.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Thị Thu H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Bùi Thị Thu H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND thành phố Hải Phòng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND quận K;

- Cơ quan điều tra Công an quận K;

- Cơ quan THAHS Công an quận K;

- Chi cục THADS quận K;

- Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;

- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;

- Bị cáo;

- Lưu: VT; HSVA.

Lương Thị Hải Hà

THẨM PHÁN

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hằng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND thành phố Hải Phòng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND huyện Thủy Nguyên;

- Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên;

- Cơ quan THAHS Công an huyện Thủy Nguyên;

- Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;

- Sở tư pháp thành phố Hải Phòng;

- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;

- Bị cáo;

Vũ Thị Hằng

- Những người tham gia tố tụng khác;

- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hằng

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ