- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS BA64 Trương Văn A mua bán trái phép chất MT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Văn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày 08-11-2024 |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Bộ
ông PhA Mạnh Tưởng .
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:Bà Trần Thị Nhâm – Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Văn A, sinh năm 2002 tại xã P, huyện M, thành phố H; nơi cư trú: thôn 9, xã P, huyện M, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B và bà Nguyễn Thị L (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 09/8/2024, chuyển tạm giam ngày 14/8/2024. Có mặt.
2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA:
Ông Phạm Đình T sinh năm 1984; địa chỉ tại thôn 8, xã P, huyện M, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 50 phút ngày 09/8/2024 tại khu vực thôn 6, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội, lực lượng Công A huyện Mỹ Đức phát hiện bắt quả tAg Trương Văn A, sinh năm 2002, trú tại thôn 9 xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ tại tay phải của A đAg cầm có 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng. Bản thân A khai nhận đó là ma túy “đá” và ma túy “ngựa” của A mAg theo để bán nhưng chưa kịp giao cho người mua đã bị lực lượng Công A bắt giữ, lực lượng Công A đã tiến hành niêm phong vật chứng và đưa về trụ sở để làm việc. Ngoài ra còn thu giữ của A 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, bên trong gắn sim số điện thoại 0366676187.
Cùng ngày, Cơ quA điều tra đã tiến hành khám xét đối với chỗ ở tại thôn 6 và thôn 9 xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội của Trương Văn A, phát hiện và thu giữ tại chỗ ở trọ tại thôn 6 xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội của Trương Văn A 01 túi nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng, 01 gói giấy bạc bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nilon bên trong chứa 07 viên nén màu hồng trên mặt đĩa nhựa màu trắng tại chỗ nằm của A. Khám xét tiếp nơi ở tại thôn 9, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội không thu giữ được vật chứng gì.
Tại Kết luận giám định số 5903/KL-KTHS ngày 18/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công A TP Hà Nội xác định:
* TAg vật Mẫu số 01 gồm:
- 01 túi nilong bên trong có: Tinh thể màu trắng là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng. 0,048gam; 02 viên nên màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,194gam.
* TAg vật mẫu số 02 gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong và 01 gói giấy bạc đều là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,241gam; 07 viên nén 07 viên nên màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,692 gam.
Tổng lượng ma túy loại Methamphetamine là 1,175 gam.
Quá trình điều tra làm rõ:
Khoảng 15 giờ 45 ngày 09/8/2024, khi Trương Văn A đAg ở nhà trọ tại thôn 6 Phù Lưu Tế, Mỹ Đức, Hà Nội thì có 01 người đàn ông có số điện thoại 0859650542 gọi điện thoại đến số 0889579521 cho A hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy “đá” và 200.000 đồng tiền ma túy “ngựa". A đồng ý và hẹn đến khu vực thôn 6 Phù Lưu Tế để giao ma túy và nhận tiền. Sau đó A lấy 01 túi nilon cho một ít ma túy “đá” và cho 02 viên ma túy “ngựa” vào cùng rồi bỏ vào 01 vỏ bao thuốc là Thăng Long màu vàng. Số ma túy còn lại A để ở mặt giường phòng ngủ. A cầm vỏ bao thuốc lá chứa ma túy ra ngoài đường để đợi người hỏi mua đến để giao ma tuý thì bị lực lượng Công A phát hiện bắt quả tAg và thu giữ tại tay phải A đAg cầm có bao thuốc lá chứa ma túy như trên và đưa về trụ sở làm việc.
Trương Văn A khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là mua của một người đàn ông tên Tâm quen qua mạng xã hội, A không biết rõ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể. A mua của Tâm 03 túi nilon ma túy đá và 18 viên ma túy "ngựa” rồi mAg về cất giấu tại phòng trọ ở thôn 6, xã Phù Lưu Tế, A đã sử dụng 01 túi nilon ma túy “đá” và 9 viên ma túy "ngựa" cho nhu cầu nghiện ma tuý của bản thân, số ma tuý còn lại mục đích A để tiếp tục sử dụng và có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. A thỏa thuận với Tâm bao giờ bán được ma túy thì A sẽ trả tiền cho Tâm.
Tại biên bản mở niêm phong kiểm tra điện thoại đối với điện thoại của Trương Văn A xác định có các cuộc gọi nhỡ, cuộc gọi đi, cuộc gọi hủy và tin nhắn từ số điện thoại 0859650542 đến số 0889579521 của A vào ngày 09/8/2024 cụ thể: Cuộc gọi đi vào lúc 15:42 thời giA gọi 00:00:00 (cuộc gọi bị hủy); Tin nhắn đến: 0859650542 lúc 15:47, nội dung "Đi thẳng à".
Trương Văn A khai nhận chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, bên trong gắn sim số điện thoại 0889579521 là của A có sử dụng để liên lạc mua, bán ma tuý.
Kết quả yêu cầu tra cứu thông tin, dữ liệu số điện thoại 0889579521 và số điện thoại 0859650542 như sau:
- Số điện thoại 0889579521, chủ thuê bao là Huỳnh Đăng Pha, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp 2, xã Tân Tây, huyện Gò Công Đồng, tỉnh Tiền GiAg.
- Số điện thoại 0859650542, chủ thuê bao Phạm Quân, sinh năm 1990, trú tại: khu phố 8A, phường Long Bình, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
TAg vật chuyển giải quyết theo hồ sơ vụ án gồm: 02 phong bì mẫu vật bên trong chứa ma tuý thu giữ của Trương Văn A và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, bên trong gắn sim số điện thoại 0889579521 thu giữ của Trương Văn A.
Cáo trạng số 69/CT-VKS-MĐ ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố Trương Văn A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: bị cáo Trương Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và nhất trí với nội dung, điều luật tội dAh như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quA điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Trương Văn A từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo là con nghiện không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, bên trong gắn sim số điện thoại 0889579521.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, c¨n cø vµo kÕt qu¶ trAh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ vµ toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña ®¹i diÖn viÖn kiÓm s¸t, bÞ c¸o. Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra Công A huyện Mỹ Đức và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người có liên quA không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét tội dAh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn A đã thành khẩn khai nhận do là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo ham muốn kiếm lời từ ma tuý để có tiền sử dụng ma tuý, nên trước đó bị cáo đã mua sẵn 03 túi ma túy “đá” loại tinh thể Mehtamphetamine và 18 viên ma túy “ngựa" loại viên nén Mehtamphetamine của một người tên “Tâm” không rõ họ tên, địa chỉ, mục đích để sử dụng cho bản thân và ai hỏi mua thì bị bán kiếm lời. Ngày 9/8/2024 có một người đàn ông gọi điện thoại cho A hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá và 200.000 đồng ma tuý ngựa. A đồng ý và lấy 1 túi nilon cho một ít ma tuý đá và cho 02 viên ma tuý ngựa vào cùng rồi bỏ vào 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Sau đó, A cầm vỏ bao thuốc lá chứa ma tuý ra ngoài đường để đợi người hỏi mua đến để giao số ma tuý đó thì bị Công A phát hiện, bắt quả tAg. Kết quả giám định chất ma tuý cho thấy: “Tinh thể màu trắng là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng. 0,048gam. 02 viên nên màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,194gam”. Tồng khối lượng ma tuý bị cáo A mAg đi bán là 0,242 gam ma túy Mehtamphetamine. Ngoài ra, bị cáo thừa nhận 0,933 gam ma tuý loại Methamphetamine thu giữ tại chỗ ở của bị cáo để cất giấu với mục đích vừa sử dụng, ai hỏi thì bán kiếm lời. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Với hành vi tàng trữ 1.175 gam loại ma túy Methamphetaminem mục đích để sử dụng và để bán kiểm lời, bị cáo đã bị Viện kiểm sát truy tố áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, kinh tế của bản thân và xã hội, còn có nguy cơ làm lây truyền nhiều loại bệnh và tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự trị A, A ninh thôn xóm, gây tâm lý hoAg mAg, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Xét về hành vi của bị cáo: Bản thân bị cáo biết rất rõ ma tuý là chất gây nghiện ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sức khoẻ, kinh tế, thậm chí ảnh hưởng đến cả sự duy trì phát triển lành mạnh nòi giống. Ma tuý bị Nhà nước nghiêm cấm lưu hành và sử dụng. Nhưng vì muốn thoả mãn cơn nghiện, bị cáo bất chấp coi thường các tác hại của ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân, ảnh hưởng đến A ninh trật tự của xã hội và muốn tiếp tục có tiền sử dụng ma tuý, bị cáo đã không ngần ngại bán ma tuý cho người khác để kiếm lời là thể hiện sự bất chấp, coi thường pháp luật. Do đó, HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời giA để bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
[Tuy nhiên khi lên mức hình phạt, Hội đồng xét xử cũng đã cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, bản thân chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, bản thân là con nghiện, không có khả năng chấp hành hình phạt bổ sung nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Đối với người tên “Tâm” bán ma túy cho bị cáo Trương Văn A, do bị cáo A không biết cụ thể họ tên, địa chỉ của người này nên Cơ quA điều tra không có đủ căn cứ xử lý là phù hợp.
Đối với Phạm Quân là người được xác định đăng ký thuê bao số điện thoại 0859650542, qua điều tra Quân khai không đăng ký và không sử dụng số thuê bao này, Quân cũng không quen biết và liên lạc với ai tên là Trương Văn A. Do không có căn cứ nên Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện Mỹ Đức không xử lý là phù hợp. Đối với nam thAh niên bán ma túy cho Công tên Tuấn ở thôn Nam Dương, xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội, do không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quA điều tra không có đủ căn cứ xác định, phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với ông Phạm Đình T là chủ nhà trọ đã cho Trương Văn A thuê tại thôn 6, xã Phù Lưu Tế, do không biết A có tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của mình nên không bị xem xét trách nhiệm hình sự.
Về xử lý vật chứng: Cần xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trương Văn A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trương Văn A 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì mẫu vật của Phòng kỹ thuật hình sự Công A thành phố Hà Nội, có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và chữ ký, họ tên Trương Văn A.
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, số Imel 1 863539049941399; số Imel 2 863539049941381 bên trong có gắn sim số điện thoại 0889579521.
Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/10/2024 giữa Công A huyện Mỹ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quA đến mình trong vụ án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAD TP. Hà Nội;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Hà Nội;
- VKSND huyện Mỹ Đức;
- Cơ quA CSĐT Công A huyện Mỹ Đức;
- Cơ quA THAHS huyện Mỹ Đức;
- Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
- UBND xã Phù Lưu Tế (thay TBKQ xét xử);
- Bị cáo;
Bùi Thị Hồng
- Lưu: HSVA, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Đức Hiệp
| Nơi nhận: - TAD TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Cơ quA CSĐT Công A huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Hợp Tiến; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Đức Hiệp |