vanban.org

Bản án 64/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 14/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T: 01 năm 06 tháng (một năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/11/2023. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khắc Tiến - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS–ST.
Ngày: 14/3/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Ba.

2/ Bà Lý Thị Bạch Tuyết.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Huy–Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gồm: Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, thư ký Toà án. Điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gồm: Bị cáo, Thư ký, cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2024/TLST–HS, ngày 01 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST–HS ngày 01 tháng 3 năm 2024, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Khắc T, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp 2, xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: Ấp Phước Hòa, xã Long Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Khắc K, sinh năm 1965 và bà Hồ Thị M, sinh năm 1969; Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1998; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 (có mặt).

– Người làm chứng: Anh Trần Nhân T, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 2, xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Khắc T là người nghiện ma túy. Khoảng 07 giờ ngày 23/11/2023, T đón xe ôm đi từ nhà trọ ở ấp Phước Hòa, xã Long Phước, huyện Long Thành đến huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, T đi bộ qua khu vực lô cao su thuộc xã Thừa Đức, huyện Cẩm Mỹ để tìm người bán ma túy (thông qua bạn bè giới thiệu). Khi đến nơi, T thấy một người thanh niên tên Hùng (không rõ nhân thân) đang ngồi trên xe mô tô không gắn biển số, T mua của Hùng 01 gói ma túy có kích thước 9,5cm x 6cm, bên trong chứa 14 gói ma túy nhỏ, với giá 900.000 đồng. T cất số ma túy vào túi quần, trên đường đi về đến ngã ba Cây Cày, T sử dụng điện thoại di động gọi nhờ bạn tên Trần Nhân T, sinh năm 1993, cư trú tại ấp 2, xã Bàu Cạn, huyện Long Thành đến chở T về nhà trọ ở ấp Phước Hòa, xã Long Phước, huyện Long Thành (T không nói cho Tâm biết là có tàng trữ ma túy trong người). Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Nhân T điều khiển xe mô tô hiệu Janus màu xanh đen, biển số 77D1–552. 52 đến ngã ba Cây Cày chở T về nhà trọ ở ấp Phước Hoà, xã Long Phước, huyện Long Thành. Khi đến ấp 7, xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, T bị Công an xã Bàu Cạn phát hiện bắt quả tang cùng tang vật (các bút lục số 11–15; 33– 44; 55–59).

– Tại Bản kết luận giám định số 2637/KL–KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai xác định:

+ Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,4588 gam, loại: Methamphetamine.

+ Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,3064 gam, loại Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu M1=1,3094 gam; M2=0,2526 gam. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số: 2637/KL–KTHS (bút lục số 07).

– Vật chứng vụ án:

+ 12 gói nylon zip màu trắng, viền xanh kích thước 1.5 cm x 2 cm được hàn kín các cạnh, bên trong có chứa hạt tinh thể không rõ hình màu trắng đục; 02 gói nylon zip màu cam kích thước 2 cm x 3 cm được hàn kín cách cạnh, bên trong có chứa hạt tinh thể không rõ hình màu trắng đục là ma túy cần tuyên tịch thu tiêu hủy (vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ).

+ 01 điện thoại samsung A24 mặt lưng màu xanh, có gắn số thuê bao 0931.251.361 của Nguyễn Khắc T; 01 xe mô tô Janus, hiệu Yamaha, biển số 77D1–525. 52 đã qua sử dụng của chị Trần Thị Kim H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã xử lý vật chứng trả các tài sản trên cho chủ sở hữu do không liên quan đến hành vi phạm tội (các bút lục số 11 – 12, 64 – 66).

Trước Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 41/CT–VKS–LT ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo Nguyễn Khắc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

– Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T: Từ 18 tháng đến 20 tháng tù

– Xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 2637/KL–KTHS ngày 30/11/2023 (hiện Chi cục Thi hành án Dân sự đang tạm giữ).

Tại phiên tòa, bị cáo T đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện trở thành người tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, Kết luận của Cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo T là nghiêm trọng, bị cáo cất giữ trái phép chất ma túy, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, không nhằm mục đích mua, bán trái phép chất ma túy, khối lượng ma túy bị cáo T tàng trữ là 1,7652 gam, loại Methamphetamine (bút lục số 07) nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật, cần xử phạt bị cáo với mức án thật nghiêm, tương xứng hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với đề nghị của Viện kiểm sát về việc tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Đối với người thanh niên tên Hùng bán ma túy cho Nguyễn Khắc T, do chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với Trần Nhân T điều khiển xe mô tô hiệu Janus màu xanh đen, biển số 77D1–552 .52 chở T, nhưng Tâm không biết T mang theo ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành không xử lý.

Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 2637/KL–KTHS ngày 30/11/2023 (hiện Chi cục Thi hành án Dân sự đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 29/01/2024 – bút lục số 78).

Về án phí: Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T: 01 năm 06 tháng (một năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/11/2023.

– Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 2637/KL–KTHS ngày 30/11/2023 (hiện Chi cục Thi hành án Dân sự đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 29/01/2024 – bút lục số 78).

– Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Theo luật định, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ