- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vui - Công"
- Tòa quyết gì? Về hôn nH: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Ngọc V về việc xin ly hôn ông Phan Ngọc V.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NH DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày 29 - 3 - 2024 V/v xin ly hôn |
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Hàng Bích Trâm
Các Hội thẩm nH dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Bà Đoàn Thị Bẩy
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng – Thư ký Tòa án nH dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nH dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm V khai vụ án thụ lý số: 734/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc V; Sinh năm 2002 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp 6, xã K, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Phan Ngọc V; Sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Đường L, khóm 3, phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Ngọc V trình bày:
Về hôn nH: Bà Trần Ngọc V và ông Phan Ngọc V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2023 tại Ủy ban nH dân phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Nguyên nH xin ly hôn do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, bà V và ông V đã ly tH từ cuối năm 2023 đến nay, cả hai không tìm được tiếng nói chung và không còn quan tâm lẫn nhau. Bà V xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông V.
Về nuôi con chung: Bà Trần Ngọc V và ông Phan Ngọc V có 01 con chung là Phan Trần Ngọc H, sinh ngày 26/7/2023, hiện con đang sống chung với bà V. Khi ly hôn bà V yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà V xác định không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà V xác định vợ chồng không có nợ chung và không ai nợ lại.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Phan Ngọc V đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phan Ngọc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, V khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về hôn nH: Bà Trần Ngọc V và ông Phan Ngọc V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2023 theo quy định của pháp luật nên hôn nH giữa ông bà được pháp luật V nhận là hợp pháp và được bảo vệ.
Xét nguyên nH mâu thuẫn vợ chồng theo bà V trình bày: Do giữa vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vã, cả hai không tìm được tiếng nói chung. Ông V và bà V không còn sống chung, không còn quan tâm lẫn nhau và đã ly tH từ cuối năm 2023 đến nay. Bà V xác định không còn tình cảm và cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông V. Về phía ông V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án cho thấy ông V không có thiện chí trong việc hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà V. Xét thấy tình trạng hôn nH giữa ông V và bà V không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nH không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nH và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V được ly hôn với ông V.
[3] Về nuôi con chung: Ông V và bà V có 01 người con chung là Phan Trần Ngọc H, sinh ngày 26/7/2023, hiện con đang sống với bà V. Khi ly hôn bà V yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung vẫn chưa đủ 36 tháng tuổi, từ trước đến nay thường xuyên do chị V chăm sóc trực tiếp và hiện nay đang sống chung với chị V. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu H cho chị V tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác định không có, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bà V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nH và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nH và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nH: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Ngọc V về việc xin ly hôn ông Phan Ngọc V.
- Về con chung: Giao con chung là Phan Trần Ngọc H, sinh ngày 26/7/2023 cho bà Trần Ngọc V trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nH gia đình sơ thẩm: Bà Trần Ngọc V phải chịu 300.000 đồng. Ngày 20/12/2023, bà Trần Ngọc V đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007824 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết V khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng KT-NV và THA TAND tỉnh Cà Mau (Gửi email); - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - UBND phường 1,tp. Cà Mau, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hàng Bích Trâm |