vanban.org

Bản án 64/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích .

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Huỳnh Văn M. Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Như Ý, sinh ngày 01/11/2016 và Huỳnh Anh T, sinh ngày 01/9/2021; ông Huỳnh Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích .
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-6-2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn và nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Thanh Hải; ông Nguyễn Thanh Thuần.

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Tiên, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Kim Chi, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 277/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ A, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1991; nơi cư trú: tổ A, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Huỳnh Văn M vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà và ông Huỳnh Văn M tự tìm hiểu, quen biết và chung sống với nhau khi làm công nhân ở tỉnh Bình Dương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T (nay là phường N, thị xã T), tỉnh An Giang theo số 80, ngày 08/11/2016. Sau khi kết hôn thì vợ chồng cùng làm thuê, sinh sống tại Bình Dương nhưng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, không hoà hợp. Do tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà Nguyễn Thị B yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Văn M.

Bà Nguyễn Thị B và ông Huỳnh Văn M có 02 con chung tên Huỳnh Như Ý, sinh ngày 01/11/2016 và Huỳnh Anh T, sinh ngày 01/9/2021. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị B yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung; không yêu cầu ông Huỳnh Văn M cấp dưỡng nuôi con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Căn cước công dân cấp cho bà Nguyễn Thị B và ông Huỳnh Văn M (bản sao); Giấy khai sinh cấp cho Huỳnh Như Ý và Huỳnh Anh T (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính) và Bản tự khai (bản chính).

- Bị đơn ông Huỳnh Văn M: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

- Ý kiến của cháu Huỳnh Như Ý: Nếu cha và mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là Nguyễn Thị B.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn cơ bản đã thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B và ông Huỳnh Văn M có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Thấy rằng, cả hai không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không tạo điều kiện cho nhau để hàn gắn, điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng là trầm trọng. Vì vậy, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần xem xét giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Như Ý, sinh ngày 01/11/2016 và Huỳnh Anh T, sinh ngày 01/9/2021. Hiện nay con chung do bà B nuôi dưỡng, cháu Ý có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Do đó tiếp tục giao cho bà Bích quyền nuôi dưỡng con chung là phù hợp; bà B không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Huỳnh Văn M, có nơi cư trú tại khóm T, phường N, thị xã T. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Huỳnh Văn M đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị B và ông Huỳnh Văn M chung sống với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 80 ngày 08/11/2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T (nay là phường N, thị xã T), tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Xét, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng bà Nguyễn Thị B và ông Huỳnh Văn M không còn sống chung, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Văn M nhưng ông không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích . Từ đó, cho thấy mâu thuẫn gia đình đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị B xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung tên Huỳnh Như Ý, sinh ngày 01/11/2016 và Huỳnh Anh T, sinh ngày 01/9/2021. Bà Nguyễn Thị B yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung.

Xét thấy, hiện nay các Ý và T do bà B nuôi dưỡng, cháu Ý có nguyện vọng được sống với mẹ, do đó tiếp tục giao con chung cho bà B nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà Nguyễn Thị B không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo luật định; bị đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích .

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Huỳnh Văn M.

2. Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Như Ý, sinh ngày 01/11/2016 và Huỳnh Anh T, sinh ngày 01/9/2021; ông Huỳnh Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nguyễn Thị Bích c các thành viên gia đình không được cản trở ông Huỳnh Văn M quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số TU/2022/009322 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên; bà Nguyễn Thị B đã nộp đủ án phí; ông Huỳnh Văn M không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo vắng mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ