- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa nguyên đơn chị Và Y B và bị đơn anh Vừ Bá L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Và Y B được ly hôn anh Vừ Bá L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 8 năm 2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Lang Thanh Lương;
2, Ông La Khăm Ỏn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu; Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Và Bá Của - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐST-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Và Y B, sinh năm 2003; Nơi cư trú: bản HG1, xã TS, huyện KS, Nghệ An;
Chỗ ở hiện nay: bản L, xã NC, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Vừ Bá L, sinh năm 2002; Nơi cư trú: bản HG1, xã TS, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 3 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Và Y B, trình bày: Chị Và Y B và anh Vừ Bá L sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2021 nhưng đến ngày 05/01/2023 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã TS, huyện KS. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau này tính tình không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, nguyên nhân là anh Vừ Bá L không chịu khó làm ăn, chăm lo cho gia đình nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người đã sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên chị Và Y B đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Vừ Bá L.
Về con: Vợ chồng có 02 (Hai) con chung: Cháu Vừ Nhật R, sinh ngày 24/11/2021 và cháu Vừ Hoàng A, sinh ngày 07/11/2023, các cháu đều đã chết.
Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Vừ Bá L trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã triệu tập nhiều lần và Niêm yết công khai Thông báo thụ lí vụ án, Thông báo về phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Vừ Bá L không có mặt, vì vậy trong vụ án này phía bị đơn không thể hiện được yêu cầu gì đối với yêu cầu xin ly hôn của phía nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình điều tra, hòa giải và xét xử. Vụ án đã được thụ lý, điều tra và xét xử đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Và Y B được ly hôn với anh Vừ Bá L.
- Về con chung: Các con chung của chị Và Y B và anh Vừ Bá L đều đã chết nên đề nghị không xem xét.
- Về về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết nghĩa vụ chịu phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Và Y B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp Huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Vừ Bá L, cư trú tại bản HG1, xã TS, huyện KS. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có mặt, tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên áp dụng Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn; trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Vừ Bá L đều vắng mặt, tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các thủ tục tố tụng tại trụ sở Ủy ban nhân dân Xã và nơi cư trú của bị đơn anh Vừ Bá L nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Và Y B là hoàn toàn có cơ sở.
Về hôn nhân: Chị Và Y B và anh Vừ Bá L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên, về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, xảy ra bất đồng quan điểm, cãi vã, xúc phạm nhau trong cuộc sống. Như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Và Y B là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Và Y B và anh Vừ Bá L có 02 (Hai) con chung: Cháu Vừ Nhật R, sinh ngày 24/11/2021 và cháu Vừ Hoàng A, sinh ngày 07/11/2023, các cháu đều đã chết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Đây là vụ án ly hôn, chị Và Y B là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/20/16 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Và Y B được ly hôn anh Vừ Bá L.
2. Về án phí: Buộc chị Và Y B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo liên lai số 0001044 ngày 21/3/2024 tại Chi cục thi hành án huyện KS, tỉnh Nghệ An.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tóa án cấp trên thong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện KS; - Chi cục THADS huyện KS; - UBND xã TS, huyện KS; - Lưu hồ sơ vụ án, văn thư; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |