- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Huỳnh L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2024/HN-ST Ngày: 15-4-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – B
Với Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thuận
Ông Lê Phú Chánh Thể
- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Như Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.
Ngày 15/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2024/TLST –HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Lê Thị Huỳnh L, sinh năm 1982; địa chỉ: số 708, ấp G, xã T, huyện G, tỉnh B (vắng có đơn).
2. Bị đơn: anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1982; địa chỉ: số 708, ấp G, xã T, huyện G, tỉnh B (vắng có đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/3/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Huỳnh L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Thanh H quen biết yêu thương nhau nên tiến tới hôn nhân. Hai bên có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh B vào ngày 22/12/2005. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
Hai bên chung sống hạnh phúc được hơn 15 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nhưng vì thương chồng nên chị cố gắng nhường nhịn. Tuy nhiên, đến đầu năm 2022, do bất đồng quan điểm nên hai bên tiếp tục xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng và không còn khả năng hàn gắn. Hiện hai bên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu ly hôn với anh H.
Con chung: Nguyễn Kiều O, sinh ngày 18/6/2007 hiện ở với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Nợ chung không có.
* Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Thanh H trình bày:
Anh và chị L quen biết yêu thương nhau nên tiến tới hôn nhân. Hai bên có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh B vào ngày 22/12/2005. Hôn nhân là trên cơ sở tự nguyện.
Hai bên chung sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến tình trạng căng thẳng và không thể hàn gắn được nữa. Hiện tại, hai bên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên anh đồng ý ly hôn với chị L.
Con chung: Nguyễn Kiều O, sinh ngày 18/6/2007 hiện ở với chị L. Khi ly hôn, anh đồng ý để chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Nợ chung không có.
* Tại phiên tòa:
Chị Lê Thị Huỳnh L, anh Nguyễn Thanh H vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- Về thủ tục: sau khi nhận đơn khởi kiện; các tài liệu, chứng cứ kèm theo và xem xét có đủ điều kiện thụ lý; Tòa án đã tiến hành thủ tục thủ lý vụ án theo đúng quy định so với Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có L quan. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ Luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng, đầy đủ các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có L quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án, không vi phạm về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn chị L đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có L quan. Bị đơn anh H thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có L quan.
- Về nội dung: căn cứ quy định tại các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Huỳnh L.
+ Về hôn nhân: chị Lê Thị Huỳnh L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
+ Về con chung: giao cháu Nguyễn Kiều O, sinh ngày 18/6/2007 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
+ Về nợ chung: không có nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục: tại phiên toà, nguyên đơn chị Lê Thị Huỳnh L, bị đơn anh Nguyễn Thanh H vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: chị Lê Thị Huỳnh L và anh Nguyễn Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh B vào ngày 22/12/2005 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Trong quá trình tố tụng, chị L cho rằng trong thời gian chung sống, do bất đồng quan điểm nên hai bên phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và không còn khả năng hàn gắn. Hiện hai bên không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn với anh H và yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh H cũng thừa nhận hai bên phát sinh mâu thuẫn từ khoảng năm 2015, tình cảm vợ chồng hiện không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và đồng ý ly hôn với chị L. Qua đó có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Nguyễn Kiều O, sinh ngày 18/6/2007. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện chị L và anh H đã sống ly thân. Trong thời gian anh chị sống ly thân, con chung ở với chị L, cuộc sống của cháu đã ổn định. Tại biên bản lấy ý kiến ngày 21/3/2024, cháu O có nguyện vọng ở với mẹ. Bên cạnh đó, anh H cũng đồng ý giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó xét yêu cầu của chị L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng, ghi nhận chị L tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị L, anh H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: chị L, anh H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Lê Thị Huỳnh L phải nộp số tiền là 300.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Huỳnh L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
2/- Con chung: Nguyễn Kiều O, sinh ngày 18/6/2007.
Giao cháu Nguyễn Kiều O, sinh ngày 18/6/2007 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị L tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3/- Tài sản chung: chị L, anh H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
4/- Nợ chung: chị L, anh H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
5/- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Lê Thị Huỳnh L phải nộp số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004774 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, án phí sơ thẩm, chị L đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B - VKSND huyện; - Chi cục THA huyện; - UBND xã Phong Nẫm, (G, B); - Các đương sự; - Lưu. Các hội thẩm nhân dân Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị Ngọc Duyên Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Thị Ngọc Duyên Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Ngọc Duyên |