- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng Thị S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2023/HSST Ngày 19/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đình Đông
Ông Tẩn Láo San
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2023, tại Nhà văn hóa thôn Mường Hum, xã Mường Hum, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2023/HSST ngày 20/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST- HS ngày 02/11/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sùng Thị S- Tên gọi khác: không; giới tính: Nữ
Sinh ngày 01/6/1968 tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Nơi cư trú và nơi ở: Thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A S và bà Cử Thị L(đều đã chết); chồng Cử A C, sinh năm 1968; cư trú: Thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai; có 05 con, con lớn sinh năm 1991 và con nhỏ sinh năm 2006; tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29/8/2023, đến ngày 01/9/2023 bị tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Thào A Tùng; sinh năm: 2003; Dân tộc: Mông; Địa chỉ: Thôn Sín Chải, xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai- Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hương Thủy- Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai- Có mặt.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 29/8/2023 bị cáo Sùng Thị S ở nhà nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Bị cáo một mình đi bộ đến xã Dền Sáng để tìm mua ma túy. Bị cáo gặp một người phụ nữ không quen biết mua một gói ma túy được gói ngoài bằng lá cây màu xanh, trong là lớp nilon màu xanh, lớp nilon màu hồng với giá 50.000đ(Năm mươi nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy bị cáo cầm ở tay phải rồi đi về nhà, khi đi đến thôn Tả Phìn, xã Dền Thàng, huyện Bát Xát thì bị tổ công tác Công an xã Dền Thàng phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại kết luận giám định số 290/GĐMT ngày 01/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,34(Không phẩy ba mươi tư) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine(Hêrôin).
Cáo trạng số 56/CT- VKS ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Sùng Thị S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát giữ quyền công tố luận tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận tội, lời nhận tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định. Vì vậy,Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Sùng Thị S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình pạt bổ sung là hình phạt tiền với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,26(không phẩy hai mươi sáu) gam Heroine(Hêrôin) cùng 01(một) mảnh lá cây màu xanh; 01(một) mảnh nilon màu xanh; mảnh nilon màu hồng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Ngoài ra, tuyên miễn tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của người bào chữa: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, nên nhận thức còn hạn chế; hoàn cảnh gia đình thuộc hộ nghèo năm 2023; không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù; không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Miễn tiền án phí cho bị cáo theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo khai nhận do có nhu cầu mua ma túy về sử dụng cho bản thân, nên khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 29/8/2023 bị cáo một mình đi bộ đến xã Dền Sáng mua của một người phụ nữ không quen biết 50.000đ(Năm mươi nghìn đồng) được 0,34(Không phẩy ba mươi tư)gam Heroine(Hêrôin). Sau khi mua được ma túy bị cáo đi bộ về nhà, khi đi đến thôn Tả Phìn, xã Dền Thàng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định về ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Sùng Thị S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,34(Không phẩy ba mươi tư) gam Heroine(Hêrôin), mục đích để để sử dụng cho bản thân, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng ma túy bị thu giữ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời lấy đó làm bài học cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình thuộc hộ nghèo; không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo với mức án 01(một) năm tù là không đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tặng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Vềt ình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử, xét thấy điều kiện hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có khả năng để thi hành án nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền với đối bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,34(không phẩy ba mươi tư) gam Heroine đã trích mẫu giám định 0,08(Không phẩy không tám)gam, số vật chứng còn lại sau trích mẫu 0,26(Không phẩy hai mươi sáu) gam Heroine và cùng 01(một) mảnh lá cây màu xanh; 01(một) mảnh nilon màu xanh; mảnh nilon màu hồng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Đây là chất ma túy nhà nước cấm lưu hành, là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với với người phụ nữ bị cáo khai không quen biết, đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 29/8/2023. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Về án phí: Theo dơn đề nghị miễn tiền án phí của bị cáo và Giấy chứng nhận số 520/GCN -HN. HCN ngày 12/9/2023 của UBND xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xác nhận bị cáo thuộc diện hộ nghèo của xã năm 2023. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án là phù hợp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Sùng Thị S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng Thị S 01(một) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2023.
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,26(không phẩy hai mươi sáu) gam Heroine (Hêrôin) cùng 01(một) mảnh lá cây màu xanh; 01(một) mảnh nilon màu xanh; mảnh nilon màu hồng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Trên một mặt của phong bì có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Sùng Thị S, tại thôn Tả Phìn, xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ngày 29/8/2023”.(Vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/10/2023)
4.Về án phí: Áp dụng đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nơi nhận:
( Đã ký)
- VKSND tỉnh Lào Cai (1);
- TAND tỉnh Lào Cai (1);
- VKSND huyện Bát Xát (1);
- Phòng hồ sơ CA huyện Bát Xát(1);
- THADS huyện Bát Xát(1);
Nguyễn Thị Thúy Hằng
- Trại tạm giam(1);
- Bị cáo (1);
- HS THA HS (1);
- Sở TP tỉnh Lào Cai(1);
- Lưu văn phòng (1);
- Lưu hồ sơ (1). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thúy Hằng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lào Cai (1); - TAND tỉnh Lào Cai (1); - VKSND huyện Bát Xát (1); - Công an huyện Bát Xát(1); - Phòng hồ sơ CA huyện Bát Xát(1); - THADS huyện Bát Xát(1); - Nhà tạm giữ; Bị cáo (1); - HS THA HS (1); -Sở TP tỉnh Lào Cai(1); - Lưu văn phòng (1); - Lưu hồ sơ (1). | Nguyễn Thị Thúy Hằng |