vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố b cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt b cáo Lò Văn T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù của b cáo t nh từ ngày 21/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Thư - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày 21-02-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và ông Lò Minh Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà han Th Lệ iang, Thư k Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lý Hoàng Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 64/2023/TLST-HS ngày 10/02/2023 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 64/2023/QĐXXST-HS ngày 10/02/2023 đối với:

Bị cáo: Lò Văn T, sinh ngày: 01/01/1966 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản A, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn M (tên gọi khác: Lò Văn T) và bà Vì Th E (đã chết); b cáo có vợ là Hoàng Th T và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 52/2015/HSST ngày 10/3/2015, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2017 nộp tiền án ph HSST ngày 11/5/2015 (Đã được xóa án t ch).

B cáo b bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2022 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 03 giờ 00 phút ngày 21/12/2022, tổ công tác Công an xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại bản A, xã L, huyện M tiến hành kiểm tra đối với Lò Văn T đang đi bộ đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hiện Lò Văn T đang cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc 01 túi nilon màu xanh đựng 35 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine. T khai nhận đó là Methamphetamine của Thư tàng trữ để sử dụng cho bản thân nghiện ma túy. Căn cứ hành vi vi phạm của Lò Văn T, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và bàn giao Lò Văn T cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, làm rõ.

Ngày 21/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tiến hành xác đ nh khối lượng 35 viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn T được 3,53 gam, lấy 0,51 gam làm mẫu trưng cầu giám đ nh, mẫu có ký hiệu T.

Tại Kết luận giám đ nh số 65 ngày 22/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy. Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,51 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,53 gam; loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra, Lò Văn T khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/12/2022, Lò Văn T đi bộ đến bản S, xã C, huyện M để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đang đi trên đường, T gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết 35 viên hồng phiến (Methamphetamine) được gói bằng nilon màu xanh với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được hồng phiến, T cất giấu trong túi quần phải rồi đi về. Trên đường đi về thì gặp tổ công tác kiểm tra, bắt quả tang.

Tại phiên tòa b cáo Lò Văn T trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. B cáo nhận tội như quyết đ nh truy tố của Viện kiểm sát.

Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 09/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố b can Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề ngh Hội đồng xét xử tuyên bố b cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt b cáo Lò Văn T từ 42 tháng đến 54 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với b cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

T ch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lò Văn T, bắt ngày 21/12/2022 (một túi nilon màu xanh chứa 30 viên nén màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối với Lò Văn T, ngày 21/12/2022.

3. B cáo phải ch u án ph hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử l các vấn đề của vụ án. B cáo nhất tr với cáo trạng và đề ngh của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: B cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết đ nh tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. B cáo không có kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa b cáo Lò Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy b tổ công tác Công an xã Lóng Sập thu giữ của b cáo vào ngày 21/12/2022 có nguồn gốc mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông với giá 300.000 đồng, mục đ ch sử dụng cho bản thân. Lời khai của b cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, b cáo khẳng đ nh việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của b cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Lóng Sập lập vào hồi 03 giờ 10 phút ngày 21/12/2022; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu b tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác đ nh số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám đ nh, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu b tạm giữ; bản kết luận giám đ nh số 65 ngày 22/12/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“ Mẫu gửi giám đ nh k hiệu T là ma túy. Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám đ nh là 0,51 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,53 gam; loại Methamphetamine” nằm trong danh mục II, số thứ tự 323 Ngh đ nh 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Ch nh phủ. Lời khai của b cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: B cáo Lò Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 21/12/2022 b cáo Lò Văn T đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 3,53 gam Methamphetamine nhằm mục đ ch sử dụng cho bản thân. Hành vi của b cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy đ nh tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của b cáo Lò Văn T không vi phạm các tình tiết đ nh khung tăng nặng khác nên chỉ b xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến ch nh sách độc quyền của Nhà nước về quản l các chất ma tu , gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại đ a phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

B cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

B cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay b cáo có thái độ thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với b cáo.

Về nhân thân của bị cáo: B cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy. B cáo đã có 01 tiền án Bản án số 52/2015/HSST ngày 10/3/2015, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt Lò Văn T 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án t ch) nhưng b cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất đ nh mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với b cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy đ nh tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy đ nh người phạm tội còn có thể b phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng b cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá tr , nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với b cáo là phù hợp.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lò Văn T, bắt ngày 21/12/2022 (một túi nilon màu xanh chứa 30 viên nén màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối với Lò Văn T, ngày 21/12/2022. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần t ch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lò Văn T tại khu vực bản S, xã C, huyện Mộc Châu. Quá trình điều tra không xác đ nh được lai l ch, đ a chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử l .

Về án phí: Buộc b cáo phải ch u án ph hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Thời hạn tạm giam của b cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết đ nh tạm giam đối với b cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố b cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt b cáo Lò Văn T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù.

Thời hạn tù của b cáo t nh từ ngày 21/12/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với b cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

T ch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lò Văn T, bắt ngày 21/12/2022 (một túi nilon màu xanh chứa 30 viên nén màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối với Lò Văn T, ngày 21/12/2022.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

B cáo Lò Văn T phải ch u án ph hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

B cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ