- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị Hương G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Hƣơng G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2023/HS-ST Ngày: 06-9-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Huy Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thủy và bà Phạm Thị Dung.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: ông Đỗ Mạnh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thị Hƣơng G, tên gọi khác: không có; sinh ngày 26/11/1996, tại U. B, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ 1, khu C, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn B và bà Ngô Thị H; chồng: Đàm Văn Đ (không đăng ký kết hôn) và có 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: 1. Bà Đặng Thị P, sinh năm: 1961. Địa chỉ: tổ 1, khu 1, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
2. Anh Lê Quyết T, sinh năm: 1995. Địa chỉ: tổ 1, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 12/6/2023, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố U cùng Công an phường T trong khi làm nhiệm vụ tại nhà nghỉ H thuộc khu 1, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh đã phát hiện bắt quả tang Vũ Thị Hương G về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, G dùng tay trái lấy ra từ túi áo chống nắng bên trái đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng thả xuống nền đất cách vị trí G đứng khoảng 50cm nhưng bị phát hiện, thu giữ. G khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy “đá”, mục đích cất giấu để sử dụng. Ngoài ra còn tạm giữ của G 01 điện thoại di động Iphone màu sám gắn sim số 0867.124.728.
Tại Kết luận giám định số 786/KL-KTHS, ngày 16/6/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất thu giữ của Vũ Thị Hương G là ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,481 gam.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Vũ Thị Hương G khai nhận: khoảng 16 giờ ngày 12/6/2023, sau khi thuê phòng nghỉ 201 tại nhà nghỉ H, G nảy sinh ý định sử dụng ma túy “đá”. G gọi điện cho Trương Thị T (là người từng mua hộ ma túy cho G nhiều lần trước đó) hỏi mua hộ 1.000.000 đồng ma túy. T đồng ý và hẹn G đến khu vực kênh nước nóng phía sau Trung tâm y tế thành phố Uông Bí giao ma túy, còn tiền mua ma túy G chuyển cho T sau. G đón xe ôm đến khu vực trên và đợi khoảng 15 phút thì có một người đàn ông không quen biết điều khiển xe mô tô đến hỏi G sau đó đút 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long vào túi áo chống nắng phía trước bên trái của G đang mặc rồi bỏ đi ngay. Biết bên trong vỏ bao thuốc lá là ma túy mình cần mua nên G đón xe ôm quay về nhà nghỉ H thì bị Công an bắt quả tang.
Tại cáo trạng số: 60/CT-VKSUB ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/6/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời, nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 786 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và 01 sim điện thoại.
Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai xác nhận của những người làm chứng và nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Trưng Vương, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh lập hồi 17 giờ 10 phút, ngày 12/6/2023, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 15 phút, ngày 12/6/2023, tại nhà nghỉ H thuộc khu 1, phường T , thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Thị Hương G là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự có hành vi tàng trữ trái phép 0,481 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về hình phạt:
Hình phạt chính:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì đua đòi và có ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý phạm tội.
* Tình tiết tăng nặng: Không có.
*Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy Methamphetaamine thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm tàng trữ, và 01 sim điện thoại số 0867.124.728 bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu xám thuộc sở hữu của anh Vũ Văn S (em trai bị cáo), anh S không biết bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh S nên không đề cập.
Những tình tiết khác trong vụ án: Đối với người đàn ông tên đưa ma túy cho G, quá trình điều tra không làm rõ được, nên HĐXX không đề cập.
- Đối với Trương Thị T, quá trình điều tra đã áp dụng các biện pháp nhưng T không thừa nhận hành vi như lời khai của G nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Hƣơng G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Vũ Thị Hƣơng G 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 12/6/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 786/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứ mẫu vật hoàn lại sau giám định còn nguyên vẹn và 01 sim điện thoại số 0867.124.728.
(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 8 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Thị Hương G phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát ND-TP. Uông Bí; - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; - Công an TP Uông Bí; - Chi cục THA DS TP. Uông Bí; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh. - Lưu hồ sơ, VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng |