- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Vỹ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64 /2023/HS-ST Ngày 19- 9 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân và bà Phạm Thị Diệu Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh - Kiểm sát viên.
Ngày19 tháng 9 năm 2023,tại điểm cầu trung tâm đặt tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và điểm cầu thành phần đặt tại cơ sở giam giữ Công an thành phố Sông Công.Tòa án nhân dân thành phố Sông Côngmở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên:Nguyễn Văn V,sinh ngày08/10/1970, tại: thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố 9, phường M, thành phố S,tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do;trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam.Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ làVũ Thị T, sinh năm 1980; Con: Có 01 consinh năm 2017.
Tiền án: 01. Tại bản án số 68/2020/HS-ST ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên (nay là thành phố Phổ Yên), tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 15/02/2022 bị cáo chấp hành xong bản án.
Tiền sự: Không
Nhân thân: Năm 1993 bị công an thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” mức phạt 50.000 đồng tại Quyết định số 307 ngày 25/9/1993.Năm 1993 bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt 6 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy” tại Bản án số 28/HSST ngày 22/10/1993. Năm 1994 bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt 36 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy” tại Bản án số 11/1994/HS-ST ngày 11/7/1994. Năm 1994 bị Công an thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt hành chính về hành vi “trốn khỏi nơi đang bị giam giữ” với hình thức cảnh cáo tại Quyết định số 53 ngày 18/6/1994. Năm 1998 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải” tạiBản án số 1392/HSST ngày 19/9/1998. Năm 2002, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên có Quyết định số 897 ngày 10/4/2002 đưa vào Cơ sở giáo dục tại Cơ sở giáo dục Thanh Hà, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc với thời hạn 24 tháng. Năm 2007, bị Công an phường M, thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” mức phạt 100.000 đồng tại Quyết định số 08 ngày 27/02/2007.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên./Có mặt.
-Người chứng kiến:Ông Phạm Hồng Q, sinh năm 1955; Địa chỉ: Tổ dân
phố A, phường M, thành phố S, tỉnh T./Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/6/2023 tổ công tác Công an phường M, thành phố Sông Công làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực tổ dân phố An Châu 1, phường M,thành phố Sông Công phát hiện Nguyễn Văn V (sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố 9 phường M, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 20B2-522.70 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra thì Nguyễn Văn V tự nguyện giao nộp từ tay trái 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất rắn màu trắng, V khai nhận là ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V và thu giữ vật chứng là số ma túy V đang tàng trữ trái phép, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 20B2-522.70 của V.
Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công tiến hành trưng cầu giám định số chất rắn màu trắng thu giữ của V. Tại bản kết luận giám định số 824 ngày 22/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất rắn màu trắng gửi giám định trong bì ký hiệu A1 là chất ma túy loại Heroine có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,349 gam.
Quá trình điều tra bị cáokhai nhận: Bản thân V là người nghiện chất ma túy từ năm 1992, hình thức sử dụng là chích, loại ma túy thường sử dụng là Heroine. Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 14/6/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, V sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus có số điện thoại 0915.327.419 gọi đến số điện thoại 0362.141.883 của Nguyễn Văn Bình (sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố An Châu 1, phường M, thành phố Sông Công), để hỏi mua 200.000đ tiền ma túy, Bình đồng ý và bảo V đến cổng nhà lấy. V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B2-522.70 (là xe của Công ty TNHH XD và TMDV Phương Nguyên do em gái của V là chị Nguyễn Thị Hồng Hạnh làm giám đốc) đi đến cổng nhà Bình. Tại đây, Bình đưa cho V 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy, loại Heroine qua khe cổng sắt, V cầm gói ma túy, rồi đưa cho Bình 200.000đ và điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ dân phố An Châu 1, phường M thì bị tổ công tác Công an phường M phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng của vụ án gồm:01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,339 gam mẫu A1 còn lại sau giám định; 01 mảnh giấy bạc, kích thước (2x4)cm, có bám dính ám khói màu đen; 01 ống cuộn bằng giấy, dài khoảng 5cm, đường kính khoảng 0,6cm, bên trong có bám dính ám khói màu đen; 01 bì niêm phong ký hiệu V bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim 0915327419; 01 bì niêm phong ký hiệu V359A2_23 bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A và mảnh giấy màu trắng có chữ tiếng việt được chuyển bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng.
Ngày 03/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công xử lý vật chứng trả lại cho Công ty TNHH XD và TMDV Phương Nguyên 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen trắng, biển kiểm soát 20B2-522.70.
Tại bản cáo trạng số 67/ CT – VKS ngày 30/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Vvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo V về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo V từ30 đến 36tháng tù; về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộsố ma túy thu giữ của bị cáo V còn lại sau giám định và các bao bì kèm theo. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim 0915327419 đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước; Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về án phí, buộc bị cáo V phải chịu án phí hình sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến,biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Hồi 17 giờ 00 phút, ngày 14/6/2023 tại khu vực tổ dân phố An Châu 1, phường M, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn V tàng trữ trái phép 0,349 gam ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường M, thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo V đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”.
Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội,nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn V:
3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.
3.2. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra, lớn lên tại địa phương, học hết lớp 09/12 thì nghỉ học và ở nhà lao động tự do cho đến nay. Thời điểm phạm tội bị cáo đang có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử cũng như bị xử phạt hành chính, cụ thể: Năm 1993 bị Công an thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản” mức phạt 50.000đồng. Năm 1993 bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt 6 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”. Năm 1994 bị Tòa án nhân dân thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt 36 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”. Năm 1994 bị Công an thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt hành chính về hành vi “trốn khỏi nơi đang bị giam giữ” với hình thức cảnh cáo. Năm 1998 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải”. Năm 2002, bị đưa vào Cơ sở giáo dục tại Cơ sở giáo dục Thanh Hà, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc với thời hạn 24 tháng. Năm 2007, bị Công an phường M, thị xã Sông Công (Nay là thành phố Sông Công) xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” mức phạt 100.000 đồng.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, được quy định tại điểm h khoản1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính:Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bản thân bị cáo Vlà người nghiện chất ma túy dẫn đến phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo đã rất nhiều lần vi phạm pháp luật, đã bị xử phạt nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học, sửa chữa lỗi lầm mà còn tiếp tục phạm tội.Nên cần phải xét xử bị cáo bằng án phạt tù nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xét xử bị cáo mức án phạt tù phù hợp. Mức hình phạt tù mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi cũng như nhân thân của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo V mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, nên xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng của vụ án:Số ma túy thu giữ của bị cáo V còn lại sau giám định và các bao bì kèm theo,.. là những vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim 0915327419 là phương tiện bị cáo sử dụng liên lạc để mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen trắng, biển kiểm soát 20B2-522.70 là tài sản của Công ty TNHH XD và TMDV Phương Nguyên, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên ngày 03/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hưu quản lý và sử dụng là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo V bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo V được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Các vấn đề khác:Về nguồn gốc số ma túy V khai mua của Nguyễn Văn Bình, Bình không thừa nhận bán ma túy cho V, kết quả điều tra đến nay chưa đủ tài liệu chứng minh việc Bình bán ma túy cho bị cáo V. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:Các Điều 106, 136,299, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52;Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023.
* Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn V.
2. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn V 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,339 gam mẫu A1 còn lại sau giám định; 01 mảnh giấy bạc, kích thước (2x4)cm, có bám dính ám khói màu đen; 01 ống cuộn bằng giấy, dài khoảng 5cm, đường kính khoảng 0,6cm, bên trong có bám dính ám khói màu đen; 01 bì niêm phong ký hiệu V359A2_23 bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A và mảnh giấy màu trắng có chữ tiếng việt.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, đã qua sử dụng, gắn thẻ sim 0915327419 được đựng trong 01 bì niêm phong ký hiệu V
(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/9/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng)án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Sông Công; - Công an TP. Sông Công; - Bị cáo; - UBND phường M; (kèm TB Kq XX); - THA h.sự, d.sự ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thùy Dung |