vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Xử phạt bị cáo Phạm Tất H 07(bẩy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/10/2022.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Tất Hành - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? 1. Xử phạt bị cáo Phạm Tất H 07(bẩy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/10/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày 26/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Ân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Hồng

2. Bà Nguyễn Thị Biên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Phạm Tất H, sinh năm 2003. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 12/12; Con ông: Phạm Văn Đ, sinh năm 1973; Con bà: Vũ Thị T, sinh năm 1976 (đã chết). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/10/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (Có mặt tại phiên tòa).

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Huy H1, sinh năm 2004; vắng mặt

Địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Phạm Văn T, sinh năm 2004; vắng mặt

Địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1978; vắng mặt

Địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Phạm Văn H2, sinh năm 1995; có mặt

Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Trịnh Công S, sinh năm 2003; vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; vắng mặt

Địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1987; vắng mặt

Địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 08/2022, Phạm Tất H đặt mua qua mạng xã hội Facebook các hỗn hợp thực vật được sao khô cắt nhỏ, nghiền vụn (cỏ Mỹ) và các hỗn hợp thực vật sao khô được đóng thành điếu để trong bao thuốc lá (thuốc Chill) đều có chứa chất ma túy mục đích bán lại cho người khác để thu lợi. Trong tháng 9/2022, H đã 02 lần bán trái phép chất ma túy, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Ngày 19/9/2022, tại khu vực chợ mới thôn C, xã D, thành phố B, H đã bán cho Nguyễn Huy H1, sinh năm 2004, trú tại thôn N, xã D, thành phố B một túi cỏ Mỹ với giá 100.000 đồng.

- Lần thứ hai: Ngày 22/9/2022, Phạm Văn T, sinh năm 2004, trú tại thôn N, xã D, thành phố B có hỏi mua của H 10 điếu thuốc Chill nhãn hiệu “HITTON” mục đích để sử dụng với giá 800.000đồng. Tại khu vực góc sân bóng thôn N, xã D, thành phố B, khi H đang đứng đợi Tiến nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị phát hiện và thu giữ vật chứng cùng một số tài sản của H.

Tại Bản cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 04 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Phạm Tất H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Xét xử bị cáo Phạm Tất H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Tất H từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 14/10/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của C09, Bộ Công an.

- Tịch thu 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, biển kiểm soát 98G1-12177 và 01 điện thoại Iphone XS Max imeil: 357263096641447 của H để sung ngân sách nhà nước. Truy thu của bị cáo H 100.000đồng tiền bán ma túy ngày 19/9/2022 để sung ngân sách nhà nước.

- Trả lại anh Trịnh Công S 01 điện thoại Iphone XS Max imeil:353100101805076.

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình và để trở thành công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản làm việc do cơ quan Công an xã D, thành phố Bắc Giang l ập ngày 22/9/2022, Kết luận giám định số 6742/KL-KTHS ngày 05/10/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/9/2022, tại khu vực chợ mới thôn Cốc, xã D, thành phố B, H đã bán cho Nguyễn Huy H1, sinh năm 2004, trú tại thôn N, xã D, thành phố B một túi cỏ Mỹ với giá 100.000 đồng. Ngày 22/9/2022, Phạm Văn T, sinh năm 2004, trú tại thôn N, xã D, thành phố B có hỏi mua của H 10 điếu thuốc Chill nhãn hiệu “HITTON” mục đích để sử dụng với giá 800.000đồng. Tại khu vực góc sân bóng thôn N, xã D, thành phố B, khi H đang đứng đợi T nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị phát hiện như vậy có đủ căn cứ kết luận Phạm Tất H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và những vấn đề khác liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp cần chấp nhận.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý của Nhà nước đối loại dược phẩm có tính chất gây nghiện. Hành vi mua bán chất ma túy của bị cáo gây ảnh hưởng đến trật tự trị an của địa phương và xã hội; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội, hành vi mua bán ma túy xảy ra ngày 22/9/2022 của bị cáo là phạm tội chưa đạt do vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình. Xong cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội phạm này.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm thu lợi bất chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 5 triệu đến 500 triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước xong Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, chưa vợ con, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với Nguyễn Huy H1 có hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy là cỏ Mỹ; Nguyễn Văn L có hành vi cất giấu số cỏ Mỹ với mục đích không để H1 sử dụng. Kết quả giám định số cỏ Mỹ đã thu giữ có tổng khối lượng 4,104 gam chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1 và L.

Đối với Trịnh Công S được H rủ đi cùng lên thành phố B để chơi. S không biết việc H đi bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với Phạm Văn T đặt mua ma tuý mục đích để sử dụng nhưng chưa nhận được thì H bị bắt giữ nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ: Bị cáo khai đặt mua của tài khoản “Minh Anh” trên mạng xã hội Facebook vào khoảng tháng 8/2022 và nhận ma túy qua dịch vụ chuyển phát nhanh; sau khi giao dịch bị cáo đều xóa tin nhắn và không nhớ thông tin hãng dịch vụ chuyển phát. Bị cáo không kết bạn với tài khoản facebook “Minh Anh”, không biết thông tin chủ tài khoản. Do vậy, Cơ quan điều tra không làm rõ được người bán ma túy cho bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 (một) đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của C09, Bộ Công an là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, biển kiểm soát 98G1-12177 và 01 điện thoại Iphone XS Max imeil: 357263096641447 của H đều là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại Iphone XS Max imeil:353100101805076 là của anh Trịnh Công sơn không liên quan đến hành vi phạm tội của H nên cần trả lại cho anh Sơn.

- Đối với việc bị cáo bán ma túy cho H1 vào ngày 19/9/2022, số tiền thu lời bất chính là 100.000đồng cần truy thu số tiền này của bị cáo để sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử:

1.1. Xử phạt bị cáo Phạm Tất H 07(bẩy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/10/2022.

1.2. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của C09, Bộ Công an.

- Tịch thu 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, biển kiểm soát 98G1-12177 và 01 điện thoại Iphone XS Max imeil: 357263096641447 của bị cáo H để sung công quỹ nhà nước.

- Truy thu số tiền 100.000đồng bị cáo H bán ma túy ngày 19/9/2022 để sung ngân sách nhà nước.

- Trả lại anh Trịnh Công S 01 điện thoại Iphone XS Max imeil:353100101805076.

3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ