- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại xe máy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2023/HS-ST Ngày 10-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Lâm và bà Nguyễn Thị Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn T, tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 16 tháng 02 năm 1993, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn T (đã chết) và con bà Quàng Thị T, sinh năm 1973; vợ bà Lường Thị L, sinh năm 1996; bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án đưa ra xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/01/2023 đến ngày 03/02/2023, tạm giam từ ngày 03/02/2023 cho đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị Thơm – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Quàng Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 01 năm 2023, Tổ công tác theo Kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an huyện Tuần Giáo làm nhiệm vụ tại khu vực bản Lạ, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang Cà Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo khoác màu đen bên trái phía trước đang mặc của bị cáo Cà Văn T 01 (một) gói nilon màu hồng, bên trong chứa 10 (mười) viên nén màu hồng trên bề mặt ký hiệu WY nghi ma túy tổng hợp; tạm giữ của bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA Excitergp, biển kiểm soát 27Z1-278.90, số khung 1010KY214691, số máy G3D4E984872.
Ngày 25/01/2023 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: Mẫu 10 (mười) viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,98 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 216/KL-KTHS ngày 01/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Cà Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine, hoàn lại đối tượng giám định 0,82 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cà Văn T khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 25/01/2023 bị cáo mượn xe máy nhãn hiệu YAMAHA Excitergp, biển kiểm soát 27Z1-278.90 của bà Quàng Thị T đi lên bản Lạ, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại bản Lạ, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; bị cáo mua được của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, khoảng 40 tuổi, 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 10 (mười) viên ma túy tổng hợp với giá 200.000đồng, việc mua bán chỉ có bị cáo và người đàn ông đó, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được ma túy bị cáo cất giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc và đi xe máy về, trên đường đi về thì gặp tổ công tác Công an kiểm tra và phát hiện, bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Quàng Thị T khai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/01/2023 bà đã cho bị cáo Cà Văn T mượn xe máy nhãn hiệu YAMAHA Excitergp, biển kiểm soát 27Z1-278.90 để sang nhà người thân tại bản Có, xã Quài Tở để giúp nấu cơm tết. Còn việc bị cáo sử dụng xe máy làm phương tiện đi mua ma túy bà T không biết, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại xe máy cho bà Quàng Thị T.
Cáo trạng số: 54/CT-VKSTG ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Cà Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,82 gam Methamphetamine còn lại, 01 (một) mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. Trả lại cho bà Quàng Thị T một xe máy nhãn hiệu YAMAHA Excitergp, biển kiểm soát 27Z1-278.90 (cũ đã qua sử dụng), số khung 1010KY214691, số máy G3D4E984872, kèm theo chìa khóa xe.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Cà Văn T: Nhất trí với Cáo trạng truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng người, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức về pháp luật, xã hội còn hạn chế. Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và cân nhắc về điều kiện, hoàn cảnh cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên; không phạt bổ sung bằng tiền, miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, không bổ sung ý kiến vào lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 25/01/2023, tại bản Lạ, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Cà Văn T bị bắt quả tang khi đang cất giấu trong túi áo khoác màu đen bên trái phía trước đang mặc 0,98 (không phẩy chín mươi tám) gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với hành vi và khối lượng Methamphetamine bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội; biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị kết án về tội danh nào khác, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, khối lượng ma túy, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đề nghị của người bào chữa về hình phạt cho bị cáo: Không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử không chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội và các quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với chất ma túy nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy; hơn nữa khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,98 gam cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giúp bị cáo cai nghiện ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, nghề nghiệp chính của bị cáo trước khi bị bắt là làm nông nghiệp, bị cáo là người nghiện, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: Đối với 0,82 gam Methamphetamine (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) mảnh nilon màu hồng là công cụ dùng vào việc phạm tội, 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo Cà Văn Tỉnh là vật không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy. Đối với một xe máy nhãn hiệu YAMAHA Excitergp, biển kiểm soát 27Z1-278.90 (cũ đã qua sử dụng), số khung 1010KY214691, số máy G3D4E984872 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Nhưng xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bà Quàng Thị T, việc bị cáo sử dụng vào mục đích trái phép bà T không biết và không có lỗi trong việc để bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại xe máy cho bà Quàng Thị T.
Về án phí: Bị cáo Cà Văn T là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ họ, tên, địa chỉ đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 25/01/2023. Do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cà Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2023.
2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 0,82 (không phẩy tám mươi hai) gam Methamphetamine.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh nilon màu hồng và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
- Trả lại cho bà Quàng Thị T một xe máy nhãn hiệu YAMAHA Excitergp (cũ đã qua sử dụng), màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 27Z1-278.90; số khung 1010KY214691, số máy G3D4E984872, kèm theo chìa khóa xe.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Cà Văn T được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Cà Văn T có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Thời hạn kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 10/5/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - CQTHAHS – Công an tỉnh Điện Biên; - Công an huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo, người bào chữa, đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Tằng |