- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Pờ Văn T phạm tội“Mua bán trái phép chất ma tuý”. 1.
- Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy các vỏ phong bì cũ; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2023/HS-ST Ngày: 22/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh - Ông Đèo Văn Vĩnh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên
Ngày 22/6/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2023/TLST- HS ngày 24/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST - HS ngày 09/6/2023 đối với bị cáo:
Pờ Văn T (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1976; Nơi sinh: Huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản Huổi Phặc, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Pờ Văn Dây (đã chết); mẹ đẻ bà Đèo Thị Ngai (đã chết); bị cáo có vợ Vàng Thị Việt, sinh năm: 1971 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm: 1999, con nhỏ nhất sinh năm: 2005. Tiền sự: Không.
Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số: 21/2014/HSST ngày 27/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, bị cáo bị xử phạt 10 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 08/02/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Vương Văn Hoan, sinh năm 1975; Địa chỉ: Bản Phiêng Đanh, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 30/01/2023, Pờ Văn T đi bộ sau đó đi nhờ xe máy của một người đàn ông không rõ lai lịch ở đâu, khi T đi đến khu vực chợ thuộc xã Dào San, huyện Phong Thổ thì gặp một người đàn ông không rõ lai lịch ở đâu. Qua trao đổi, T hỏi mua 01 gói Heroine (bên trong có 03 gói nhỏ) của người này với giá 590.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T đi nhờ xe máy của một người đàn ông không rõ lai lịch ở đâu đi về nhà. Sau đó T đi ra lán ruộng gần nhà thuộc bản Huổi Phặc, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để chia nhỏ Heroine, T đã chia nhỏ thành 14 gói Heroine đều được gói bằng các mảnh nilon màu xanh và cất giấu vào túi áo bên phải treo trên tường trong lán ruộng. Sau đó T cùng Lò Văn Pụm đi lấy củi và bảo với Pụm ở lại lán ăn cơm, Pụm đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày Vương Văn Hoan, gọi điện thoại cho T thì T rủ Hoan đến lán ruộng của mình để ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Hoan hỏi mua Heroine của T, T đã cấu một ít của 01 gói trong tổng số 14 gói Heroine để bán cho Hoan 01 ít Heroine với giá 50.000 đồng, sau khi mua được Heroine Hoan đi ra ngoài sử dụng sau đó cầm mảnh giấy bạc và bật lửa để lên bàn trong lán của T, quá trình T bán Heroine cho Hoan thì Pụm đi tắm không được nhìn thấy, việc Hoan sử dụng Heroine ở đâu T không biết. Sau khi Thém nấu cơm xong thì cả 03 người cùng nhau ăn cơm, uống rượu, trong khi đang ăn cơm thì tổ công tác Công an xã Khổng Lào kiểm tra hành chính, T đã giao nộp 14 gói Heroine; số tiền 50.000 đồng là tiền bán Heroine cho Hoan; 01 mảnh giấy bạc và bật lửa và khai đó là vật dụng của Hoan sử dụng ma túy, và nguồn ma túy là Hoan mua của T. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với T và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Ngày 31/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đã tiến hành mở niêm phong và cân tịnh 14 mẫu chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Pờ Văn T có khối lượng 0,59 gam. Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ 0,59 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục của T gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 120/KL-KTHS ngày 03/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “14 mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu từ M1 đến M14) gửi giám định là ma túy, loại Heroin”.
Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của Pờ Văn T. Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số tiền 50.000 đồng gửi đến giám định đều là tiền thật.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: Các vỏ phong bì cũ; 01 gói nilon màu vàng; 14 mảnh nilon màu xanh; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc; số tiền 50.000 đồng đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ.
Bản cáo trạng số: 29/CT-VKSPT ngày 24/5/2023 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Pờ Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Pờ Văn T từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vỏ phong bì cũ; 01 gói nilon màu vàng; 14 mảnh nilon màu xanh; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc.
Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của Pờ Văn T là tiền bán Heroine cho Hoan, nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm và nhất trí với bản luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng. Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người làm chứng, vì vậy việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 293; Điểm d khoản 2 Điều 308 - Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/01/2023 Pờ Văn T đã đã bán trái phép cho Hoan một ít Heroine với giá 50.000 đồng. Sau đó T bị Công an xã Khổng Lào lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ 14 gói ma túy. Kết quả giám định 14 gói chất bột màu trắng thu giữ của Pờ Văn T kết luận là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,59 gam.
Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có căn cứ cho rằng bị cáo đã bán Heroine cho Vương Văn Hoan 01 lần thu lợi bất chính 50.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251- Bộ luật hình sự. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251- Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do vậy cần phải có một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đó là: “Tái phạm”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy bị cáo là người dân tộc thiểu số đã bị xét xử và được giáo dục pháp luật, bị cáo không còn hạn chế về thận thức pháp luật nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xét về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật, nên cũng cần phải có một mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn, không có việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 điều 251 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng còn lại của vụ án: các vỏ phong bì cũ; 01 gói nilon màu vàng; 14 mảnh nilon màu xanh; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của Pờ Văn T là tiền bán Heroine cho Hoan, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Các vấn đề khác: Hành vi sử trái phép chất ma túy của Vương Văn Hoan đã bị Công an huyện Phong Thổ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật. Đối với Lò Văn Pụm không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên không đề cập xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và tại phiên tòa bị cáo đã đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Pờ Văn T phạm tội“Mua bán trái phép chất ma tuý”. 1. Về hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Pờ Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ (từ ngày 30/01/2023 đến ngày 08/02/2023). Thời hạn thi hành hình phạt tù của bị cáo đi chấp hành án.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy các vỏ phong bì cũ; 01 gói nilon màu vàng; 14 mảnh nilon màu xanh; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 50.000 đồng thu giữ của bị cáo.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14, 15; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.
THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Phương
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh - VKS tỉnh, huyện - THA dân sự - Cơ quan THAHS, CQĐT huyện - Bị cáo, Người có QLNVLQ - Sở Tư pháp - Công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. - Lưu HS - TA . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương |