vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Tuyên án 24/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) và Nguyễn Trọng Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt: bị cáo Phạm Đình B 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 năm 03 tháng tù của bản án số 33/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách. Buộc bị cáo Phạm Đình B phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bình Phong Long tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) và Nguyễn Trọng Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM SÁCH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày: 24/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Huệ

2. Bà Nguyễn Thị Phương Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Đình B, Sinh năm: 1989. Tên gọi khác: không; Nơi sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn LD, xã HT, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 12/12. Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông PĐt (Đã chết) và con bà NT. Vợ là NTN. Bị cáo có 02 con, sinh năm 2009 và 2014.

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Bản án số 17/2010/HSST ngày 19/5/2010 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách 12 tháng. (Đã được xóa án tích)

Bản án số 33/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, xử phạt bị cáo 07 năm 03 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/9/2022, hiện đang chấp hành hình phạt tù tại tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Đồng Xuân H; Sinh năm: 1988; Tên gọi khác: Đồng Đức H. Nơi sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn LD, xã HT, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 5/12. Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông ĐX (Đã chết) và con bà PT. Vợ NTL. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 07/2005/HSST ngày 26/4/2005 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 36/2010/HSST ngày 28/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt 14 tháng tù về tội Đánh bạc. Bản án số 15/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt 25 tháng tù về tội Đánh bạc. Bản án số 29/2014/HSST ngày 26/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt 30 tháng tù về tội Đánh bạc, tổng hợp hình phạt với Bản án số 15/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách tổng là 54 tháng 28 ngày tù. (Đều đã chấp hành xong và được xóa án tích). Bản án số 33/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, xử phạt bị cáo 07 năm 04 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/9/2022, hiện đang chấp hành hình phạt tù tại tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Bị cáo có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Trọng Ph, Sinh năm: 1986; Tên gọi khác: không. Nơi sinh, đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn LD, xã HT, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 12/12. Quốc tịch Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông NTN (Đã chết) và con bà NT. Vợ là NTH. Bị cáo có 02 con sinh năm 2014 và 2018. Tiền án: không. Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28/QĐ-XPHC ngày 07/3/2022 của UBND xã HT về hành vi đánh bạc trái phép. Chấp hành xong ngày 11/3/2022.

Nhân thân: Bản án số 33/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/9/2022, hiện đang chấp hành hình phạt tù tại tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

+ Ông ĐH, sinh năm 1968;

+ Bà ĐN, sinh năm 1967;

Đều trú tại: Thôn LD, xã HT, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

- Người làm chứng:

+ Anh LT, sinh năm 1992;

+ Anh PĐ, sinh năm 1992;

+ Anh VH, sinh năm 1991;

+ Chị VT, sinh năm 1998;

+ Chị LH, sinh năm 2002;

+ Chị CN, sinh năm 2001;

+ Chị QH, sinh năm 2000;

+ Anh PN, sinh năm 2003;

Vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 29/8/2022, Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H), Nguyễn Trọng Ph và LT đi uống bia cùng nhau. Trong lúc ngồi uống bia, Ph rủ mọi người đi hát Karaoke. B nói "hát thì có làm tí không”. Ph và H hiểu "làm tí" là sử dụng ma túy nên đồng ý. Trị nói không tham gia. Sau đó H sử dụng điện thoại của mình có lắp sim số thuê bao 0964.537.657 gọi vào số điện thoại 0789.219.003 cho một người bán ma túy không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể để đặt mua ma túy. H nói với Ph và B giá của 02 chỉ ma túy Ke, 03 viên ma túy kẹo và tiền công mang đến tận nơi là 4.300.000đồng. Người bán ma túy yêu cầu H chuyển tiền vào số tài khoản của anh ta. B dùng ứng dụng SmartBanking trên điện thoại chuyển tiền từ số tài khoản 0341005888047 mang tên P đến số tài khoản 0341007196.. mang tên N số tiền 2.300.000đồng, số tiền còn lại sẽ trả nốt sau khi nhận ma túy. Sau đó, H, B và Ph đến quán karaoke DD ở thôn LD, xã HT, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (do bà ĐN làm chủ) để thuê phòng hát. Tại đây, Ph, H và B lên phòng hát Vip 4 của quán. Một lát sau, LT đưa 02 nhân viên gồm QH và Lìu Thị Hiền lên phòng để hát. Tại quán hát, Ph gặp bạn là anh VH nên Ph rủ vào phòng hát cùng. Một lúc sau có thêm 03 nhân viên phục vụ gồm: VT, LH và CN vào hát cùng. Khoảng 20 phút sau, 01 người thanh niên giao ma túy gọi điện cho H, bảo xuống cửa sau của quán để lấy ma túy. H rủ Ph xuống cùng lấy ma túy lên để sử dụng. Khi xuống dưới tầng một của quán, Ph vay ông ĐH số tiền 2.000.000đồng và đưa cho H để H trả nốt số tiền mua ma túy còn thiếu. H cầm số ma túy vừa mua được (gồm 03 viên ma túy loại MDMA

- còn gọi là Kẹo và 02 gói ma túy loại Ketamine - còn gọi là Ke) lên phòng hát VIP 4, H đưa cho B, Tâm, Hồng mỗi người ½ viên để sử dụng, đưa cho Ph 02 lần mỗi lần ½ viên. Ph đưa số ma túy này cho Nhinh sử dụng. H sử dụng ½ viên. Sau đó H để 01 gói ma túy Ke lên đĩa sứ cho B "xào ke" (chia ma túy Ke thành các đường nhỏ để dễ sử dụng) để cho những người trong phòng hát cùng sử dụng, còn 01 gói H để vào giỏ đồ trên bàn. B và H đã sử dụng ma túy trên đĩa. Đến 21 giờ 15 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện Nam Sách kiểm tra phát hiện và thu giữ vật chứng, gồm: 01 đĩa sứ hình bầu dục màu trắng (là đĩa đựng hoa quả của quán), trên đĩa có đựng chất bột mịn màu trắng được thu gom vào túi nilon; 01 thẻ ATM loại thẻ Visa màu xanh mang tên P; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đồng được cuộn tròn hình trụ dọc và có cố định 02 vỏ đầu lọc thuốc lá, có số seri AD19712163 (tờ tiền này có sẵn tại phòng hát, các đối tượng dùng để sử dụng ma túy); 01 gói nilon kích thước (3cm x 2,5cm) bên trong chứa chất rắn dạng bột màu trắng; 01 vỏ gói nilon kích thước (8cm x 10cm); 02 vỏ nước ngọt nhãn hiệu Cocacola; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng có số seri FK2811ARHFLU nắp sim thuê bao 0964537657; 01 điện thoại Iphone 12Promax màu xanh dương, số seri GNOXERYOD42, số IMEL 3500022641P0045 lắp sim 0985307555.

Tại các biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 30/8/2022 do cán bộ Trạm y tế thị trấn Nam Sách - Trung tâm y tế huyện Nam Sách kết luận: 05 người gồm Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H), CN, VT, LH có kết quả dương tính với ma túy tổng hợp MDMA (kẹo). Những người khác không dương tính với loại ma túy nào.

Tại Kết luận giám định số 487/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm Ph trong Ph bì ký hiệu M1, gửi đến giám định khối lượng là 0,653g, là ma túy, loại Ketamin. Chất bột màu trắng trong gói nilon màu trắng được niêm Ph trong Ph bì ký hiệu M2 gửi đến giám định khối lượng là 0,448g là ma túy, loại Ketamin.

Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKS-NS, ngày 31/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố các bị cáo Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) và Nguyễn Trọng Ph về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đã mua hai loại ma túy gồm 03 viên ma túy loại kẹo và 02 chỉ ma túy loại ketamine để cùng nhau và cho những người khác sử dụng. Tại quán karaoke DD ở thôn LD, xã HT, huyện Nam Sách, các bị cáo và những người khác đã sử dụng hết 03 viên ma túy loại kẹo. Bị cáo B và H đã sử dụng một ít ma túy loại ketamine, còn một phần ở trên đĩa và 01 túi ma túy loại ketamine, các bị cáo cất giữ để tiếp tục sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng. Các bị cáo bị truy tố xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng. Các bị cáo không bị oan.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) và Nguyễn Trọng Ph phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 55, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Đình B từ 12 tháng đến 14 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 33/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách. Buộc bị cáo Phạm Đình B phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/9/2022

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 56, Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) từ 13 tháng đến 15 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 33/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách. Buộc bị cáo Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 08 năm 05 tháng đến 08 năm 07 tháng tùthời hạn tù tình từ ngày bắt tạm giam 01/9/2022.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 55, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Ph từ 12 tháng đến 14 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 33/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách. Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Ph phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 08 năm đến 08 năm 02 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/9/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Vật chứng: Không phải giải quyết. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của chính các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 15 phút ngày 29/8/2022, tại phòng hát VIP4, quán Karraoke DD, địa chỉ: Thôn LD, xã HT, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Các bị cáo Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) và Nguyễn Trọng Ph có hành vi góp tiền mua hai loại ma túy, thuê phòng hát để các bị cáo cùng nhau và cho 03 người khác cùng sử dụng. Các bị cáo đã sử dụng hết số ma túy kẹo. Số ma túy còn lại ở trên đĩa sứ là 0,448gam và trong túi nilon là 0,653gam, tổng cộng là 1,101gam là ma túy, loại Ketamin, các bị cáo cất giấu để tiếp tục sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích cùng nhau hoặc cho người khác cùng sử dụng. Do đó, hành vi của các bị cáo Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) và Nguyễn Trọng Ph đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) và Nguyễn Trọng Ph ra trước tòa để xét xử với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên các bị cáo đều có nhân thân xấu. Bị cáo H đã có bốn lần phạm tội và bị xét xử, phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn (đều đã được xóa án tích). Bị cáo B đã có một lần phạm tội và bị Tòa án xét xử bằng một bản án. Bị cáo Ph bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc (chưa được xóa) nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi phạm tội. Hành vi góp tiền mua ma túy, thuê phòng hát, dằm ma túy (xào ke) để các bị cáo cùng nhau và cho 03 người khác cùng sử dụng trái phép đã bị Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xét xử tại Bản án số 33/2023/HS-ST ngày 27/4/2023.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo B đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo B có ông nội là liệt sỹ, có thành tích hoạt động xuất sắc trong phòng, chống dịch bệnh covid-19 tại địa phương. Bị cáo Ph có mẹ là người khuyết tật, là lao động chính trong gia đình, có đóng góp cho Ph trào phòng chống covid19 tại địa phương nên bị cáo B và Ph được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để có hình phạt phù hợp. Bị cáo B là người khởi xướng, sử dụng số tiền 2.300.000đồng để chuyển tiền mua ma túy. Bị cáo H trực tiếp liên hệ mua ma túy và nhận ma túy. Do đó, B và H có vai trò ngang nhau. Ph là người góp số tiền 2.000.000đồng để mua ma túy nên Ph có vai trò thứ ba.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy: Cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã được xử lý tại Bản án số 33/2023/HS-ST ngày 27/4/2023.

Bà ĐN là chủ sơ sở kinh doanh Karaoke DD nơi các bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bà N không biết; CN, LH và VT có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chủ tịch UBND huyện Nam Sách đã quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.

LT, QH và Lìu Thị Hiền không biết các bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không sử dụng trái phép chất ma túy; PĐ là người cho B mượn thẻ ATM nhưng không biết B sử dụng vào việc trộn và chia ma túy, không biết các bị cáo tàng trữ ma túy; Ông Hồng cho bị cáo Ph vay tiền nhưng không biết Ph sử dụng vào việc mua ma túy nên không xem xét, xử lý đối với những người trên.

Ông H cho bị cáo Ph vay số tiền 2.000.000đồng. Nội dung này đã được xem xét tại vụ án trước nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Quá trình điều tra không làm rõ được người bán ma túy cho H nên không có cơ sở xử lý.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Đình B, Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) và Nguyễn Trọng Ph phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

2. Căn cứ: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38, Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Phạm Đình B 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 năm 03 tháng tù của bản án số 33/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách. Buộc bị cáo Phạm Đình B phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/9/2022.

3. Căn cứ: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38, Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 năm 04 tháng tù của bản án số 33/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách. Buộc bị cáo Đồng Xuân H (tên gọi khác là Đồng Đức H) phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/9/2022.

4. Căn cứ: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Ph 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 năm tù của bản án số 33/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách. Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Ph phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 01/9/2022.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật số 97/2015 về phí và lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016 của UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Đình B, Đồng Xuân H (Đồng Đức H) và Nguyễn Trọng Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơn thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ