vanban.org

Bản án 64/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng Tuyên án 21/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn C phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-ST
Ngày 21-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Minh Thông

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Văn Tân

2. Bà Khúc Thị Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Phong - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Vũ Văn C, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1967, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn N và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 và 03 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 22/3/2023, Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; nhân thân: Ngày 28/01/2022, Công an huyện K xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “”Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Vũ Văn G, sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

2. Phạm Thị N1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

3. Hoàng Văn T1, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, văng mặt.

4. Vũ Văn L, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 23/6/2023, Vũ Văn C, Vũ Văn G, Hoàng Văn T1, Phạm Thị N1 đến nhà Vũ Văn L ở Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng chơi. Tại đây, các đối tượng rủ nhau đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh phỏm bằng bài tú lơ khơ. Cả bọn đi vào phòng ngủ phía trong nhà ông Vũ Văn L. Tại phòng ngủ trong nhà Vũ Văn L đã có sẵn chiếu trải dưới nền nhà và 02 bộ bài lá tú lơ khơ. Các đối tượng thỏa thuận mỗi ván chơi, ai về thứ hai, thứ ba, thứ tư lần lượt trả cho người về nhất số tiền là 10.000đ, 20.000đ, 30.000đ, người nào cháy (không có phỏm) phải trả cho người về nhất 50.000đ, nếu có người “ù” thì ba người còn lại phải trả cho người “ù” số tiền là 70.000đ và người “ù” sẽ bỏ ra số tiền 10.000đ cho ông Vũ Văn L là chủ nhà. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 820.000đ, 02 bộ bài lá tú lơ khơ, 20.000đ cạnh chiếu bạc; thu giữ của Hoàng Văn T1 số tiền 300.000đ; thu giữ của Vũ Văn C số tiền 500.000đ; thu giữ của Phạm Thị N1 số tiền 400.000đ.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 28/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, thành phố Hải Phòng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Văn C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn C, Vũ Văn G, Hoàng Văn T1, Phạm Thị N1, Vũ Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình và đồng bọn như nội dung vụ án đã nêu.

Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSKT của Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng truy tố Vũ Văn C về tội “ “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 09 đến 12 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.040.000đ đánh bạc. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Văn C phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Vũ Văn C không có ý kiến gì về tội danh và điều luật áp dụng mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên thu thập, do người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác thu thập, cung cấp đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại do đó các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Văn C tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với Biên bản vi phạm quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vũ Văn C có hành vi đánh bạc trái phép bằng bài lá tú lơ khơ với Vũ Văn G, Hoàng Văn T1, Phạm Thị N1 với tổng số tiền đánh bạc xác định được là 2.040.000đ. Mặc dù số tiền đánh bạc xác định được dưới 5.000.000đ, tuy nhiên bị cáo Vũ Văn C thực hiện hành vi đánh bạc trong khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể: Ngày 22/3/2023 Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPVPHC đối với Vũ Văn C về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền phạt là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Vũ Văn C đã vi phạm khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạm tội “Đánh bạc”. Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây mất trật tự, trị an, mất an toàn xã hội. Đánh bạc trái phép là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều vi phạm pháp luật, nhiều tội phạm khác đồng thời làm mất đi thời gian, công sức của nhiều người, làm ảnh hưởng đến công việc của nhiều cá nhân và sự hoạt động bình thường của nhà nước và xã hội. Vì vậy, pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân: Ngày 28/01/2022 bị cáo Vũ Văn C bị Công an huyện K xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Tính đến ngày phạm tội, tiền sự này của bị cáo đã được xóa nhưng chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Bị cáo Vũ Văn C đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa lại tiếp tục có hành vi sử dụng số tiền 700.000đ tham gia đánh bạc trái phép cùng đồng bọn với tổng số tiền đánh bạc trong vụ án xác định được là 2.040.000đ. Tính từ tháng 01/2022 đến ngày 23/6/2023, Vũ Văn C đã 03 lần thực hiện 03 hành vi đánh bạc trái phép, trong đó 02 lần đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn tiếp tục vi phạm, thể hiện bị cáo không có khả năng tự cải tạo thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử đã thận trọng xem xét và thấy rằng để đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đây cũng là quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng tại phiên toà.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Vũ Văn C có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm: 02 bộ bài tú lơ khơ và số tiền 2.040.000đ. Đối với 02 bộ bài lá tú lơ khơ, đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để đánh bạc cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 2.040.000đ bị cáo và đồng bọn sử dụng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với Vũ Văn G, Hoàng Văn T1, Phạm Thị N1 có hành vi đánh bạc trái phép bằng bài lá tú lơ khơ cùng với Vũ Văn C với số tiền đánh bạc xác định được là 2.040.000đ (dưới 5.000.000đ), nhân thân các đối tượng đều chưa có tiền án, tiền sự do đó chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”; Vũ Văn L có hành vi dùng phòng ngủ trong nhà của mình để các đối tượng Vũ Văn C, Vũ Văn G, Hoàng Văn T1, Phạm Thị N1 đánh bạc. Hành vi của Vũ Văn L chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc” nên Công an huyện K, thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng nêu trên là phù hợp pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Vũ Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn C 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.040.000đ (hai triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng) bị cáo Vũ Văn C cùng đồng bọn sử dụng để đánh bạc theo Biên bản giao nhận vật chứng và Ủy nhiệm chi ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ