vanban.org

Bản án 64/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Phước H.

Về hôn nhân: Anh Lê Phước H được ly hôn với chị Ngô Thị T; Giấy chứng nhận kết hôn số 46, Quyển số: I/2012 ngày 06/4/2012 do UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho anh Lê Phước H với chị Ngô Thị T không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa H và T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Phước H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TAN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Tam;

2. Ông Nguyễn Hồng Thái.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 178/2023/TLST-HNGĐ ngày 19/4/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 68/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/7/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Phước H, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Ấp C, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Ấp C, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 27/3/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Lê Phước H trình bày: Về hôn nhân giữa anh H với chị Ngô Thị T do quen biết nhau trước, được cha, mẹ hai bên đồng ý nên hai người tiến tới hôn nhân vào năm 2012. Hai người có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 46, Quyển số: I/2012 ngày 06/4/2012. Sau khi cưới nhau thì anh H và chị T sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì chị T bỏ cha con anh H đi đến nay, gia đình hai bên có bàn bạc hàn gắn nhưng chị T cương quyết bỏ anh H. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2022 đến nay. Anh H nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Anh H xin được ly hôn với chị T.

- Về con chung: Anh H với chị Ngô Thị T có với nhau 01 đứa con chung tên Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 11/01/2013. Hiện cháu D đang sống với anh H. Khi ly hôn, anh H yêu cầu được nuôi con, anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng cháu D sống với anh H.

Về tài sản chung: Anh H khai anh với chị T không có tài sản chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh H khai anh với chị T không có tài sản chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Ngô Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị T vắng mặt không lý do.

Biên xác minh ngày 22/6/2023 của Hội phụ nữ xã T cung cấp về tình trạng hôn nhân của anh H với chị T thể hiện: Anh Lê Phước H và chị Ngô Thị T là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Về mâu thuẫn vợ chồng thế nào địa phương không rõ, chỉ biết anh H và chị T không còn sống chung từ năm 2022 đến nay. Anh H và chị T có 01 đứa con chung tên Lê Thị Mỹ D sinh ngày 11/01/2013, hiện cháu đang sống với anh H.

Biên bản xác minh ngày 08/6/2023 Công an xã T cung cấp: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1989 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Hiện chị Ngô Thị T vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên.

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do chị T vắng mặt.

Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh ngày 22/6/2023 của Hội phụ nữ xã T, biên bản không lấy được lời khai chị T ngày 22/6/2023, biên bản xác minh ngày 08/6/2023 của Công an xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, anh H giữ nguyên yêu cầu, chị T vắng mặt,

Anh H xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác; chị T không cung cấp chứng cứ.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, anh Lê Phước H với chị Ngô Thị T có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc năm 2022 giữa anh H và chị T có phát sinh mâu thuẫn. Anh H và chị T đã không còn sống chung thời gian dài. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh H và chị T có 01 con chung tên Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 11/01/2013. Hiện cháu đang sống với anh H. Đề nghị giao hai con chung tên Lê Thị Mỹ D cho anh H nuôi, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền: Anh Lê Phước H khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với chị Ngô Thị T, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Ấp C, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

Biên bản xác minh ngày 08/6/2023 Công an xã T cung cấp: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1989 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Hiện chị Ngô Thị T vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên.

Sự vắng mặt của đương sự: Chị Ngô Thị T vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh H có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H với chị Ngô Thị T có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 46, Quyển số: I/2012 ngày 06/4/2012. Xét, hôn nhân giữa T và anh H là hợp pháp.

Anh H khai, sau khi cưới nhau thì anh H và chị T sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì chị T bỏ cha con anh H đi đến nay, gia đình hai bên có bàn bạc hàn gắn nhưng chị T cương quyết bỏ anh H. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2022 đến nay. Anh H nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Anh H xin được ly hôn với chị T.

Biên xác minh ngày 22/6/2023 của Hội phụ nữ xã T cung cấp về tình trạng hôn nhân của anh H với chị T thể hiện: Anh Lê Phước H và chị Ngô Thị T là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Về mâu thuẫn vợ chồng thế nào địa phương không rõ, chỉ biết anh H và chị T không còn sống chung từ năm 2022 đến nay. Anh H và chị T có 01 đứa con chung tên Lê Thị Mỹ D sinh ngày 11/01/2013, hiện cháu đang sống với anh H.

Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,… và lý do chính đáng khác”;

“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.

Anh H và chị T có thời gian dài không sống chung, hai người không tự hàn gắn lại được, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Giữa anh H và chị T đã sống xa cách nhau từ năm 2022 đến nay.

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, chấp nhận yêu cầu của anh H ly hôn đối với chị T.

Về con chung: Anh H với chị Ngô Thị T có với nhau 01 đứa con chung tên Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 11/01/2013. Hiện cháu D đang sống với anh H. Khi ly hôn, anh H yêu cầu được nuôi con, anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Nguyện Vọng của cháu Lê Thị Mỹ D muốn được sống với anh H.

Xét, giao cháu Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 11/01/2013 cho anh H được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H khai giữa anh với chị T không có tải sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này chị T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T với anh H có tài sản, nợ chung mà không tự thỏa thuận được thì chị T vẫn có quyền khởi kiện anh H ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí: Anh Lê Phước H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh H được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007519 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Chị Ngô Thị T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Phước H.

Về hôn nhân: Anh Lê Phước H được ly hôn với chị Ngô Thị T;

Giấy chứng nhận kết hôn số 46, Quyển số: I/2012 ngày 06/4/2012 do UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho anh Lê Phước H với chị Ngô Thị T không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao cháu Lê Thị Mỹ D, sinh ngày 11/01/2013 cho anh Lê Phước H được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Ngô Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con..

Anh Lê Phước H cùng thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Ngô Thị T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau chị Ngô Thị T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T với anh H có tài sản, nợ chung thì chị T vẫn có quyền khởi kiện anh H ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác

Về án phí: Anh Lê Phước H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh H được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007519 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Chị Ngô Thị T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ anh Lê Phước H và chị Ngô Thị T có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ