- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trang - Đạt"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu T, xử cho chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với anh Dương Quốc Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2023/HNGĐ - ST. Ngày: 25-5-2023. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị H.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh V;
2. Ông Nguyễn Thái D.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn C – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân A– Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2023/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST– HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐST-DS ngày 08/5/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: thôn G, xã G, huyện L, tỉnh L. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: anh Dương Quốc Đ, sinh năm 1993.
Nơi cư trú: thôn G, xã G, huyện L, tỉnh L. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T thì:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Dương Quốc Đ xây dựng gia đình với nhau năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gia Lâm, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 05/12/2018. Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, có lần anh Đ còn bóp cổ, đánh đập chị. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng chị bất đồng quan điểm sống, anh Đ còn nghiện hút, cờ bạc. Đầu năm 2020, khi chị mới sinh con được 02 tháng thì anh Đ bỏ nhà đi không quan tâm, chăm sóc cho vợ con. Khoảng tháng 5/2020, anh Đ trở về nhà thì chị phát hiện anh Đ lên cơn nghiện bị co giật, chị báo với gia đình chồng đưa đi anh Đ đi cai nghiện. Hết thời gian cai nghiện, anh Đ trở về ngày 1/5/2021 nhưng anh Đ vẫn không từ bỏ được ma túy, tiếp tục bỏ nhà đi, không quan tâm, chăm sóc cho vợ con. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không Đ được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: chị T xác định vợ chồng chị có 01 con chung tên là Dương Khánh T, sinh ngày 10/02/2020. Khi ly hôn, chị T yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Chị T không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: chị T xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị T không yêu cầu gì thêm.
Bị đơn anh Dương Quốc Đ: đã được Tòa án niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật nhưng anh Đ không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T. Về con chung, đề nghị giao con chung tên là Dương Khánh T, sinh ngày 10/02/2020 cho chị T có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: đương sự xác định không có nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Dương Quốc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; chị Nguyễn Thị Thu T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu T và anh Dương Quốc Đ xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gia Lâm, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 05/12/2018 nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy: chị T và anh Đ xây dựng gia đình với nhau từ năm 2018, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Theo kết quả xác minh thì mâu thuẫn giữa chị T và anh Đ là do anh Đ nghiện ma túy, sau khi được đưa đi cai nghiện trở về, anh Đ vẫn tái nghiện dẫn đến vợ chồng có xảy ra xô xát nhau. Do nghiện ma túy nên anh Đ thường xuyên bỏ nhà đi, không quan tâm, chăm sóc cho vợ con. Khoảng 01 năm trở lại đây, anh Đ không trở về nhà. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không Đ được. Vì vậy, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân của anh chị cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh Đ là hoàn toàn phù hợp.
Về con chung: chị T xác định vợ chồng anh chị có 01 con chung tên là Dương Khánh T, sinh ngày 10/02/2020. Khi ly hôn, chị T yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành.
Xét thấy, từ khi sinh ra đến nay, con chung là Dương Khánh T vẫn sống cùng với chị T, được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về tâm sinh lý cho trẻ, căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cần giao con chung tên là Dương Khánh T, sinh ngày 10/02/2020 cho chị T có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con, quá trình giải quyết vụ án chị T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự xác định không có tài sản chung, không có nợ chung và thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc chị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu T, xử cho chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với anh Dương Quốc Đ.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Dương Khánh T, sinh ngày 10/02/2020 cho chị Nguyễn Thị Thu T có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Dương Quốc Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002184 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Chị Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Các đương sự; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ, BP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị H |