vanban.org

Bản án 64/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thượng Thị Hạnh Tr đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc V về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc ông Nguyễn Quốc V phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Thượng Thị Hạnh Tr số tiền nợ gốc là 1.455.000.000 đồng và số tiền lãi là 120.765.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 1.570.765.000 đồng Bà Thượng Thị Hạnh Tr có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 180670, số và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hop dong vay tai san"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thượng Thị Hạnh Tr đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc V về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 105 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/DS-ST
Ngày: 31- 5-2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Minh Lý

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 25 và 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 386/2022/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 386/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 396/2023/QĐST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Thượng Thị Hạnh Tr, sinh năm 1971, địa chỉ: Số A, tổ A1, phu phố A2, phường A3, thành phố A4, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1984, địa chỉ: phường B1, thành phố B2, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1949; địa chỉ: Khu phố C, phường C1, thành phố C2, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 20/6/2022 nguyên đơn Bà Thượng Thị Hạnh Tr trình bày:

Ngày 28/6/2021, Bà Thượng Thị Hạnh Tr có cho Ông Nguyễn Quốc V vay số tiền là 1.500.000.000 đồng, thời hạn vay từ 06 tháng đến 12 tháng kể từ ngày vay. Để đảm bảo khoản vay trên, bà Tr có giữ của ông V một bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số U 180670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số: 004496 QSDĐ/TTLS do Ủy ban nhân dân huyện Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình cấp ngày 29/11/2004 cho Bà Nguyễn Thị B. Bà Tr và ông V cùng với các nhân chứng gồm bà Lê Thị Thùy T và ông Nguyễn Duy Q làm chứng trong việc đàm phán ký hợp đồng vay và giao nhận tiền giữa các bên. Hai bên có thỏa thuận miệng tiền lãi là 3%/tháng, ông V đã trả cho bà Tr được 01 tháng tiền lãi, số tiền là 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), nhưng từ tháng thứ 02 đến nay ông V không trả nợ gốc và tiền lãi cho bà Tr. Nay, bà Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông V phải trả cho bà Tr số tiền nợ gốc là 1.455.000.000 đồng, số tiền lãi là từ ngày 01/7/2021 cho đến khi xét xử sơ thẩm với mức lãi suất tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền gốc và lãi bà yêu cầu là 1.570.765.000 đồng.

Bị đơn Ông Nguyễn Quốc V, Bà Nguyễn Thị B: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho Ông Nguyễn Quốc V, Bà Nguyễn Thị B theo quy định tại Điều 179, 180 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Ông Nguyễn Quốc V, Bà Nguyễn Thị B không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có yêu cầu đối với nguyên đơn.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì về tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Thượng Thị Hạnh Tr đối với bị đơn Ông Nguyễn Quốc V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1984, địa chỉ: 1011/33/ 4 Lê Hồng Phong, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương phải trả số tiền đã vay và lãi là 1.570.765.000 đồng. Vì vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng mà các bên giao kết là hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự.

Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt, thông báo hợp lệ cho bị đơn ông Nguyễn Quốc V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B. Tuy nhiên, ông V, bà B không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có văn bản ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn bà Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc V phải trả số tiền đã vay và lãi là 1.570.765.000 đồng.

Xét thấy, giấy vay tiền thế chấp ngày 28/6/2021 thể hiện người ký tên là Ông Nguyễn Quốc V có vay của Bà Thượng Thị Hạnh Tr số tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng. Hai bên có thỏa thuận thời hạn trả nợ nhưng hết thời hạn là từ 6 tháng đến 12 tháng ông V vẫn không trả số tiền nợ gốc cho bà Tr. Đây là hợp đồng vay có thời hạn theo quy định tại Điều 470 Bộ luật Dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt, đăng báo các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định tại Điều 177, 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự ông V, bà Bốn không đến Tòa án tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định nguyên đơn Bà Thượng Thị Hạnh Tr có cho bị đơn Ông Nguyễn Quốc V mượn tiền 1.500.000.000 đồng. Như vậy, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bà Tr khởi kiện yêu cầu ông V thanh toán số nợ trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 463, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông V có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn bà Tr tổng số tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng.

Tuy nhiên, bà Tr cho rằng ông V đã trả 45.000.000 đồng tiền lãi nhưng không đưa ra chứng cứ chứng minh đây là trả lãi nên có cơ sở thể hiện đây là phần nợ gốc ông V trả bà Tr. Do đó, số tiền gốc 1.500.000.000 đồng – 45.000.000 đồng là 1.450.000.000 đồng.

Về tiền lãi: Bà Tr yêu cầu tính lãi từ ngày 01/7/2021 đến khi xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 10%năm.

Xét thấy, căn cứ vào giấy mượn nợ ngày 28/6/2021 trên thì các bên có thỏa thuận thời hạn thanh toán nhưng không thỏa thuận lãi suất nên thuộc trường hợp vay có kỳ hạn nhưng không có lãi theo quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật dân sự. Mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, cụ thể như sau: Từ ngày 01/7/2022 đến khi xét xử sơ thẩm là 31/5/2023 với số tiền lãi 1.455.000.000 đồng x 0.83% x 10 tháng = 120.765.000 đồng. Bà Tr yêu cầu tính lãi với số tiền 120.765.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Bị đơn thế chấp cho nguyên đơn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Bà Nguyễn Thị B, việc thế chấp này không thực hiện đúng quy định pháp luật nên nguyên đơn có trách nhiệm hoàn trả cho Bà Nguyễn Thị B.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.

. Quan điểm của vị đại diện Viện Kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Quốc V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 105, 357, 463, 466, 470 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 177, 227, 228, 266, 267 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thượng Thị Hạnh Tr đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc V về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

- Buộc ông Nguyễn Quốc V phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Thượng Thị Hạnh Tr số tiền nợ gốc là 1.455.000.000 đồng và số tiền lãi là 120.765.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 1.570.765.000 đồng

- Bà Thượng Thị Hạnh Tr có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 180670, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 004496 QSDĐ/TTLS do Ủy ban nhân dân huyện Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dương cấp ngày 29/11/2004 cho Bà Nguyễn Thị B.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Quốc V phải chịu số tiền 59.272.950 đồng

Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một hoàn trả cho Bà Thượng Thị Hạnh Tr số tiền là 31.050.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0000111 ngày 13/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Ông Nguyễn Quốc V phải chịu chi phí đăng báo số tiền 5.000.000 đồng, ông V trả lại số tiền 5.000.000 đồng bà Tr đã nộp.

3/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4/ Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ