- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Bích Th.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2023/DS-ST Ngày 31-3-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Trọn
Bà Phạm Hồng Ân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 480/2022/TLST-DS, ngày 06 tháng 10 năm 2022, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-DS, ngày 22 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Bích Th, sinh năm 1966. (có mặt)
Cư trú tại: Ấp Đ, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Phan Thị H (tên gọi khác: Phan Thị M) (vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp Đ, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Công Tr (vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp Đ, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 10 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/11/2022 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa, bà Lê Bích Th trình bày:
Vào ngày 27/10/2018 âm lịch, bà có cho bà Phan Thị H vay số tiền 6.040.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 02%/01 tháng, mỗi ngày trả 10.000 đồng tiền lãi, khi vay có làm biên nhận nợ và bà H ký tên nhận tiền, nhưng bà H ký ghi tên thường gọi là Phan Thị M, theo biên nhận thỏa thuận thời gian trả nợ là 24 tháng (đến ngày 27/10/2020 âm lịch). Từ khi vay đến nay, bà H không trả tiền vốn và lãi theo thỏa thuận. Nay bà yêu cầu bà Phan Thị H và chồng là ông Nguyễn Công Tr cùng liên đới nghĩa vụ trả cho bà số tiền vốn vay là 6.040.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày vay đến ngày xét xử vụ án.
Bà Phan Thị H và ông Nguyễn Công Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của bà Lê Bích Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Bích Th khởi kiện bà Phan Thị H yêu cầu trả số tiền cho vay còn nợ nên đây là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Phan Thị H cư trú tại ấp Đ, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Phan Thị H và ông Nguyễn Công Tr được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Phan Thị H là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét về nội dung tranh chấp: Bà Lê Bích Th xác định vào ngày 27/10/2018 âm lịch có cho bà Phan Thị H (tên thường gọi là Phan Thị M) vay số tiền 6.040.000 đồng thỏa thuận thời hạn vay là 24 tháng kể từ ngày vay, lãi suất là 02%/01 tháng, nhưng từ khi vay đến nay bà Phan Thị H không trả số nợ trên cho bà. Nay bà Lê Bích Th yêu cầu bà Phan Thị H và ông Nguyễn Công Tr liên đới nghĩa vụ trả cho bà 6.040.000 đồng tiền vốn vay và lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 27/10/2018 âm lịch đến nay. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà Lê Bích Th cung cấp một biên nhận nợ có tiêu đề “M Tr, ngày 27/10/2018 vợ 7 Quốc có cho M vay mượn số tiền 6.040.000 đồng…”, người nhận tiền có ghi họ tên Phan Thị M. Quá trình giải quyết vụ án bà Phan Thị H và ông Nguyễn Công Tr không trình bày ý kiến, không có ý kiến phản đối về nội dung khởi kiện và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, cũng không có yêu cầu phản tố. Từ đó, có đủ cơ sở xác định bà Phan Thị H và ông Nguyễn Công Tr có vay của bà Lê Bích Th 6.040.000 đồng và còn nợ bà Lê Bích Th 6.040.000 đồng là có căn cứ.
Theo biên nhận nợ thỏa thuận thời gian trả nợ là 24 tháng tức đến ngày 27/10/2020 âm lịch và lãi suất 02%/ 01 tháng, tuy nhiên bà Phan Thị H, ông Nguyễn Công Tr không trả vốn và lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định:
“Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.
Như vậy, mức lãi suất các đương sự thỏa thuận 02%/01 tháng là đã vượt quá quy định 20%/năm nên cần điều chỉnh lại lãi suất theo quy định là 20%/năm (1,66%/tháng). Thời gian vi phạm nghĩa vụ đóng lãi là từ ngày 27/10/2018 âm lịch tức ngày 03/12/2018 dương lịch đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 31/3/2023 dương lịch là 51 tháng 28 ngày là: 6.040.000 đồng x 1,66% x 51 tháng 28 ngày = 5.206.480 đồng. Tổng tiền vốn và lãi là 11.246.480 đồng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bà Lê Bích Th không phải chịu án phí và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí, bà Phan Thị H và ông Nguyễn Công Tr phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 277, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các điều 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật dân sự.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Bích Th. Buộc bà Phan Thị H (Phan Thị M) và ông Nguyễn Công Tr liên đới nghĩa vụ trả cho bà Lê Bích Th số tiền nợ vay gồm vốn và lãi là 11.246.480 đồng (mười một triệu, hai trăm bốn mươi sáu nghìn bốn trăm tám mươi) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bà Phan Thị H và ông Nguyễn Công Tr phải chịu 562.324 đồng. Bà Lê Bích Th đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018233 ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Nay hoàn trả lại toàn bộ cho bà Lê Bích Th là 300.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bà Lê Bích Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Phan Thị H (Phan Thị M) và ông Nguyễn Công Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - CCTHADS huyện Phú Tân; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Vẹn |