- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thuy D Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thùy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ tØnh phó thä | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2022/HSST Ngày 14 tháng 6 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Đậu
Ông Đỗ Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14/6/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2022/HSST ngày 12/5/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/HSST-QĐ ngày 31/5/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thùy D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 15/7/1987. Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Yên Bái. Chỗ ở: không có nơi cư trú ổn định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12. Bố đẻ: Trần Xuân Đ (đã chết); Mẹ đẻ: Lê Thị H, sinh năm 1952; Chồng: Tạ Quang L, sinh năm 1975. Con: có 02 con (con lớn sinh năm 2009; con nhỏ sinh năm 2016). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2022. Qua xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình, xác định nếu không tạm giam đối với bị cáo thì bị cáo có khả năng tiếp tục phạm tội mới. Do đó ngày 02/3/2022, cơ quan điều tra đã tạm giam đối với bị cáo. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Phú Thọ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 50 phút ngày 27/02/2022 tại tổ 20, khu Âu Cơ, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Việt Trì đã phát hiện và bắt quả tang đối với Trần Thùy D, sinh năm 1987; trú tại: Tổ dân phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Yên Bái về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời. Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (D khai là ma túy đá tàng trữ để bán với giá 4.500.000 đồng); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vsmart, màu tím, màn hình bị nứt vỡ, số imei1 356743103036815, imei2 356743103036823 kèm 01 sim trong máy số 0337.766.351 và số tiền 82.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói ma tuý có đặc điểm như trên theo đúng quy định của pháp luật. Tại trụ sở Công an thành phố Việt Trì, cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra nước tiểu và xác định Trần Thùy D âm tính với ma túy.
Ngày 27/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định Trưng cầu giám định đới với chất rắn dạng tinh thể chứa trong 01 túi nilon đã thu giữ của Trần Thùy D. Tại bản Kết luận giám định số 345/KLGĐ ngày 07/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,811 gam, loại Methamphetamine”
Methamphetamine là chất ma túy số nằm trong danh mục II, số thứ tự 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ
Hoàn lại 0,604 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong 01 bì giấy.
Về nguồn gốc ma tuý, Trần Thùy D khai nhận: Do là đối tượng sống lang thang và cần tiền để chi tiêu cá nhân nên Trần Thùy D nảy sinh ý định mua bán ma túy, sau đó bán lại để kiếm lời. Khoảng 20 giờ ngày 27/02/2022, D một mình đi bộ từ huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đến gần nhà nghỉ Thu Hà thuộc phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực gần nhà nghỉ Thu Hà thuộc phường Khai Qunag, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, D gặp và mua được 3.500.000 đồng ma túy Methamphetamine có đặc điểm là 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có khuy bấm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng của một người nam giới (D không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể). Sau khi mua được ma túy, D gọi điện thoại đến hãng taxi Vĩnh Phúc yêu cầu 01 chiếc taxi đến đón mình. Một lúc sau, anh Trần Văn H1 – sinh năm 1986, trú tại khu Vĩnh Thịnh Tây, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên điều khiển xe taxi, biển kiểm soát 88A-462.12 đến đón, D yêu cầu anh H1 chở mình đến thành phố Việt Trì. Khi đến khu vực ngã ba thuộc tổ 20, khu Âu Cơ, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, D yêu cầu taxi dừng lại để nghỉ. Sau đó, D xuống xe, đi bộ ra khu vực cách nơi xe taxi của anh H1 dừng đỗ một đoạn để tìm người mua ma túy thì sẽ bán túi ma túy vừa mua trước đó với giá 4.500.000 đồng. Khi D đang đứng thì bị Tổ Công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Việt Trì kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ những vật chứng nêu trên. Quá trình điều tra nhân thấy, đối với người nam giới đã bán ma túy cho Trần Thùy D, do D không biết tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ để xử lý. Đối với anh Trần Văn H1, Cơ quan điều tra xác định: Việc bị cáo D thuê taxi đến thành phố Việt Trì mục đích để bán ma túy, anh H1 hoàn toàn không biết. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về nguyên nhân, điều kiện động cơ mục đích dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo: Do bị cáo là đối tượng lang thang và muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên đã mua ma túy để bán kiếm lời
Về vật chứng, tài sản thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã làm rõ: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vsmart, màu tím, màn hình bị nứt vỡ, số imei1 356743103036815, imei2 356743103036823 kèm 01 sim trong máy số 0337.766.351 là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội; 01 bì niêm phong số 345/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ trả lại sau khi giám định; Số tiền 82.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. Hiện số tiền này đang được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Thọ.
Tại Cơ quan điều tra D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình trong ngày 27/02/2022, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSVT ngày 11/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trần Thùy D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Trần Thùy D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Mục đích của bị cáo mua ma túy là nhằm bán kiếm lời để tiêu sài cá nhân. Đối với các vật chứng bị thu giữ, bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thùy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo D từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2022. Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 điều 251 để tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu tím, màn hình bị nứt vỡ, số imei1 356743103036815, imei2 356743103036823 và số tiền 82.000 đồng. Về vật chứng và án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Hồi 21 giờ 50 phút ngày 27/02/2022, tại tổ 20, khu Âu Cơ, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Trần Thùy D thực hiện hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,811 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích bán kiếm lời, thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Việt Trì phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Như vậy, hành vi phạm tội của D phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích mua bán để kiếm lời. Do đó, cần xử phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị. Nhưng xét thấy cần áp dụng khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để tịch thu sung quỹ nhà nước đối với tài sản của bị cáo là: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu tím, màn hình bị nứt vỡ, số imei1 356743103036815, imei2 356743103036823 và số tiền 82.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
- 01 bì niêm phong số 345/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ trả lại sau khi giám định bên trong có 0,604 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 sim số: 0337.766.351 do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về những vấn đề khác:
- Đối với người nam giới đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo D trong ngày 27/02/2022, do D không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ điều tra làm rõ là phù hợp.
- Đối với với anh Trần Văn H1, do anh H1 không biết về việc bị cáo D thuê taxi đến thành phố Việt Trì mục đích để bán ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh H1 là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thùy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thùy D 30 ( Ba mươi ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2022.
Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 điều 251 để tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu tím, màn hình bị nứt vỡ, số imei1 356743103036815, imei2 356743103036823 và số tiền 82.000 đồng.
(Số tiền 82.000đ hiện đang được bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Thọ)
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong số 345/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ trả lại sau khi giám định bên trong có 0,604 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng còn lại sau giám định
- Tịch thu, tiêu hủy 01 sim điện thoại số: 0337.766.351
Các vật chứng trên đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt trì, tỉnh Phú Thọ.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Thùy D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ; - Sở tư pháp; - Công an TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - THA HS, DS TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - UBND phường H, TP. B tỉnh Yên Bái; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Vân |