vanban.org

Bản án 64/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 01/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Trương Minh K phạm tội " Đánh bạc"

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 15( Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30( Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm( 01/11/2022). Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu H cho UBND phường B, thị xã B, tỉnh T giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Trương Minh K phạm tội " Đánh bạc"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:64/2022/HS- ST
Ngày 01- 11- 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Thẩm

Bà Lê Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh, là Thư ký TAND thị xã Bỉm Sơn.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Liên - Kiểm sát viên

Ngày 01 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:57/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:58/2022/ QĐXXST-HS ngày 21/10/2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Thu H; Sinh năm 1976; Nơi sinh: Huyện H, tỉnh N; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 2, Khu phố 11, phường B, thị xã B, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Năng T( đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T( đã chết); Chồng: Trịnh Văn C; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 25/9/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án án treo về tội Đánh bạc.

Ngày 27/9/2022 bị Công an thị xã B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc ngày 09/6/2022”, mức phạt 1.500.000đ. Ngày 03/10/2022 Nguyễn Thị Thu H đã chấp hành nộp phạt.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - (Có mặt)

2. Trƣơng Minh K- sinh năm 1968; Nơi sinh: xã H, huyện H, tỉnh T; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do ;Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Minh K( đã chết); Con bà: Mai Thị T( đã chết); Vợ: Lại Thị V; Con: Có 03 con: con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án; không; Tiền sự: không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú- (Có mặt)

* Ngƣời làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ- sinh năm 1982

Trú quán: Khu phố 2, phường P, thị xã B( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 09/6/2022, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra về trật tự xã hội Công an thị xã B phối hợp với Công an phường N, thị xã B bắt quả tang tại ki ốt số 17, chợ B, thuộc khu phố 2, phường N, thị xã B của La Thị H, sinh năm 1973, trú tại khu phố 11, phường B làm chủ có 05 người phụ nữ gồm: Bùi Thị H, Ngô Thị A, Tôn Thị L, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu H đang thực hiện hành vi “Đánh bạc” dưới hình thức đánh bài ba cây tính điểm. Tổ công tác đã thu giữ: 3.080.000 đồng tiền Việt Nam đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 36 lá bài đã qua sử dụng ( thiếu từ lá bài 10, J, Q, K); 01 hộp giấy đã qua sử dụng bên trong có số tiền 240.000đ và 05 điện thoại di động của các đối tượng đánh bạc Bùi Thị H,Tôn Thị L, Ngô Thị A, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị Thu H.

Sau khi tiến hành lập biên bản kiểm tra thông tin trong điện thoại di động của các đối tượng trên. Kết quả điều tra, xác minh điện thoại Iphone Xsmax màu vàng đồng (gold) bên trong có sim số 0968.903.756 của Nguyễn Thị Thu H phát hiện trong tin nhắn điện thoại có các nội dung mua, bán số lô của H cho khách trong các ngày 07/5/2022 và ngày 08/6/2022 cụ thể như sau:

Ngày 07/5/2022 Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982, trú tại khu phố 2, phường P, thị xã B sử dụng tài khoản zalo tên “Đạt Đạt” đăng ký từ số điện thoại 0967.137.337 nhắn tin cho Nguyễn Thị Thu H tên tài khoản zalo “ Huyền Cương” lúc 18 giờ11 phút để mua 02 số lô 15 và 19, mỗi số lô 50 điểm Huyền nhắn lại “OK”, mỗi điểm lô giá 22.500 đồng, 01 điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng, Đạt mua tổng 100 điểm lô thành tiền là 2.250.000 đồng. Kết quả xổ số miền Bắc ngày 07/5/2022 số lô Đạt mua không trúng thưởng, ngày hôm sau Đạt đã thanh toán toàn bộ số tiền mua số lô cho Nguyễn Thị Thu H.

Như vậy số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn Đ tổng là: (100 điểm lô x 22.500 đồng) = 2.250.000 đồng, tổng số tiền H nhận ghi số lô của Đạt là 2.250.000 đồng

Ngày 08/6/2022, Trương Minh K dùng tài khoản zalo “ A Khơi 655” đăng ký từ số điện thoại 0921.489.655 để nhắn tin cho Nguyễn Thị Thu H tên tài khoản zalo “ Huyền Cương” hồi 17 giờ 54 phút để mua 04 số lô: 44, 48, 45, 57, mỗi số lô với 70 điểm và được H nhắn lại “ OK”, hồi 17 giờ 55 phút K nhắn tin cho H mua số lô 77 với 50 điểm và được H nhắn lại “ OK”, hồi 17 giờ 57 K tiếp tục nhắn tin cho H mua số lô 87 với 50 điểm và được Huyền nhắn lại “ OK”. Tổng số Khơi mua của H 380 điểm lô, mỗi điểm giá 22.500 đồng, thành tiền là 8.550.000 đồng, 01 điểm lô trúng thưởng được 80.000 đồng. Kết quả xổ số miền Bắc ngày 08/6/2022 số lô 77 Khơi mua trúng thưởng được 50 điểm x 80.000 đồng = 4.000.000 đồng. Sau khi trừ đi số tiền trúng thưởng K đã thanh toán xong cho H số tiền đánh lô là 4.550.000 đồng

Như vậy số tiền Trương Minh K đánh bạc với Nguyễn Thị Thu H ngày 08/6/2022 tổng là: ( 380 điểm lô x 22.500 đồng/điểm) + (trúng thưởng 50 điểm lô x 80.000 đồng/điểm ) = 12.550.000 đồng, tổng số tiền H nhận đánh bạc và trả cho Khơi là 12.550.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật tài liệu của Nguyễn Thị Thu H. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì chứng minh việc H sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để đánh bạc mà H tự đưa ra mức trúng thưởng quy ước với người mua sô lô, số đề và tự chi trả tiền trúng thưởng sau khi có kết quả xổ số.

Theo lời khai của Trương Minh K, sau khi biết tin Nguyễn Thị Thu H bị khởi tố về tội Đánh bạc, do lo sợ bị phát hiện nên K đã vứt điện thoại Sam sung cảm ứng màu đen bên trong có sim số điện thoại 0921.489.655 ở bờ đê sông Tam Điệp đoạn đường từ Cầu Hà Lan, thị xã B đi hướng xã Hà Vinh, huyện Hà Trung. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không tìm thấy.

Ngày 15/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã ban hành quyết định số:129/QĐ-CSĐT Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 điện thoại Iphone Xsmax màu vàng (gold), số IMEL: 357284096850804 bên trong có sim số 0968.903.756.

Tại kết luận giám định số: 3341/KL-KTHS ngày 28/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Hiện tại không phục hồi được dữ liệu tin nhắn trong điện thoại di động gửi giám định; trích xuất 93 tin nhắn của Apple,1072 tin nhắn Zalo trong điện thoại gửi giám định- được thể hiện trong phụ lục; không trích xuất được tin nhắn Messenger Facebook do không đủ năng lực, điều kiện cần thiết cho việc giám định.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng Nguyễn Văn Đ, Trương Minh K và Nguyễn Thị Thu H đã khai nhận hành vi của mình.

Đối với hành vi đánh bạc dưới 5.000.000đ của Nguyễn Văn Đ do chưa có tiền sự, tiền án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc nên lần vi phạm này của Đ chưa đủ căn cứ khởi tố về tội đánh bạc, vì vậy Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “mua số lô, số đề” quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định:144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Đồng thời tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền đánh bạc của Đạt tổng là: 2.250.000 đồng.

Đối với hành vi đánh bạc ngày 07/5/2022 của Nguyễn Thị Thu H do hành vi bán sô lô, số đề cho Đ chưa đủ căn cứ để khởi tố tội Đánh bạc nên Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “làm chủ lô, đề ” quy định tại điểm a khoản 5 Điều 28 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.

Quá trình xác minh, điều tra H và K cùng khai nhận do có mối quan hệ quen biết nhau nên thi thoảng K có vay tiền của H để phục vụ công việc làm ăn, H có lấy lãi suất nhưng lãi suất phù hợp với lãi suất cho vay của ngân hàng, bản thân H chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vạy nặng lãi, vì vậy không có cơ sở xem xét tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự đối với Huyền.

Hành vi đánh bạc trái phép ngày 08/6/2022 của Nguyễn Thị Thu H, Trương Minh K đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

Quá trình tại ngoại, trong giai đoạn truy tố bị cáo Trương Minh K đã tự nguyện giao nộp số tiền trúng thưởng: 4.000.000 đồng Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

* Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

Vật chứng của vụ án 01 điện thoại Iphone Xsmax màu vàng (gold), đã qua sử dụng bên trong có sim số 0968.903.756 của Nguyễn Thị Thu H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn bảo quản và chuyển đến Chi cục THADS thị xã Bỉm Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số:65/CT-VKSBS ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Trương Minh K đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về trách nhiệm hình sự:

* Hình phạt chính:

- Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Trương Minh K phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS, đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự;

Đề nghị phạt tiền bị cáo từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ để nộp vào ngân sách nhà nước.

* Hình phạt bổ sung:

- Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ để sung công quỹ Nhà nước.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trương Minh K.

b) Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS và Điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: 01 điện thoại Iphone Xsmax màu vàng( gold) đã qua sử dụng bên trong có sim số điện thoại của Nguyễn Thị Thu H là công cụ, phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước( Tang vật trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn).

c/ Án phí HSST: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và các bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa. Trong quá trình điều tra đã đầy đủ lời khai của người làm chứng, việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 54 phút đến 18 giờ ngày 08/6/2022 Bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Trương Minh K đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức nhắn tin mua, bán sô lô qua tài khoản zalo. Tổng số tiền đánh bạc trái phép là 12.550.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội " Đánh bạc" tội phạm và hình phạt được quy định xử lý tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm hại đến trật tự công cộng là khách thể được luật hình sự bảo vệ. Hiện nay các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy, lô đề, cờ bạc đang là vấn đề hết sức nhức nhối cho xã hội đòi hỏi mỗi người công dân phải nêu cao tinh thần tự giác đấu tranh cùng với Nhà nước loại trừ tệ nạn trên. Chính mỗi tệ nạn là tiền đề cho tệ nạn khác phát triển và là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm. Các bị cáo chỉ vì hám lợi mà vi phạm pháp luật. Đối với bị cáo H năm 2014 đã từng bị xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội, chứng tỏ bản chất bị cáo là khó cải tạo. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã xâm phạm trật tự công cộng còn gây dư luận xấu và ảnh hưởng không tốt đến quần chúng nhân dân trên địa bàn. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và đấu tranh phòng chống tội phạm.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

- Tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

- Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã ủng hộ quỹ vì người nghèo số tiền 1.000.0000đ và ngày 31/10/2022 bị cáo đã tự nguyên giao nộp số tiền do thực hiện hành vi đánh bạc 8.550.000đ( Tám triệu, năm trăm, năm mươi nghìn đồng). Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với Trương Minh K tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngày 14/10/2022 bị cáo tự nguyện giao nộp khoản tiền 4.000.000đ do phạm tội mà có, bị cáo là người thờ cúng mẹ liệt sỹ và anh trai bị cáo là liệt sỹ. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với số tiền ít, tổng số tiền 12.550.000đ, và đây là vụ án có đồng phạm giản đơn. Vì vậy, khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với bị cáo H tuy có nhân thân xấu nhưng phạm tội ít nghiêm trọng và có 02 tình tiết giảm nhẹ nên bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số:02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được sửa đổi bổ sung tại Điều 1 Nghị quyết số:01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.Việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo H cũng có tác dụng giáo dục, cho bị cáo cải tạo bản thân và không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.

Đối với bị cáo Khơi nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nơi bị cáo cư trú.

Hình phạt bổ sung: Xét bản thân các bị cáo đánh bạc không mang tính chuyên nghiệp, điều kiện hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, đối với bị cáo Khơi đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 BLHS là phù hợp.

* Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS và Điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: 01 điện thoại Iphone Xsmax màu vàng( gold) đã qua sử dụng bên trong có sim số điện thoại của Nguyễn Thị Thu H là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước( Tang vật trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn).

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 8.550.000đ của Nguyễn Thị Thu H và 4.000.000đ của Trương Minh K là tiền do phạm tội mà có( Số tiền này các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn).

* Án phí HSST các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Trương Minh K phạm tội " Đánh bạc"

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự( Đối với H);

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự( Đối với K);

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 15( Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30( Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm( 01/11/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu H cho UBND phường B, thị xã B, tỉnh T giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Trương Minh K số tiền 20.000.000đ( Hai mươi triệu đồng) nộp vào Ngân sách Nhà nước. * Xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS và Điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 điện thoại Iphone Xsmax màu vàng( gold) đã qua sử dụng bên trong có sim số điện thoại của Nguyễn Thị Thu H.

+ Số tiền 8.550.000đ( Tám triệu, năm trăm, năm mươi nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Thị Thu H.

+ Số tiền 4.000.000đ( Bốn triệu đồng) của bị cáo Trương Minh K.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2022 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn và theo biên lai thu tiền số: AA/2021/ 0002994 ngày 19/10/2022 của bị cáo K, biên lai thu số:AA/2021/0002998 ngày 31/10/2022 của bị cáo H, các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn ).

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo buộc các bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Trương Minh K mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 01/11/2022).

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ