- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sỹ Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Sỹ Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 64/2022/HS-ST Ngày 01 - 6 - 2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và ông Phạm Hồng Thái.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Phượng - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Vọng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXXST-HS ngày 13/5/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Sỹ Đ; tên gọi khác: không; sinh ngày: 20/3/1981, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: xóm M, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: tổ S, khu S, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty than Khe Chàm - TKV; trình độ học vấn: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Sỹ T và bà: Nguyễn Thị X; vợ: Lê Thị H và 01 con sinh năm xxxx; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 27/01/2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt quả tang 29/12/2021, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố C, có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: các ông Bùi Đình L, Nguyễn Tất Y, đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 29/12/2021, tại khu vực tổ B, khu S, phường M, thành phố C, Công an thành phố C bắt quả tang Nguyễn Sỹ Đ có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi nilon kích thước (2x1,6)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng loại Methamphetamine và còn thu giữ của Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen.
Tại bản kết luận giám định số 142/KLGĐ ngày 04/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Nguyễn Sỹ Đ là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,225 gam.
Bản cáo trạng số 61/CT-VKS-CP ngày 12/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Sỹ Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Sỹ Đ khai nhận về hành vi phạm tội cụ thể: bị cáo sử dụng ma túy đá từ tháng 12/2020, sáng ngày 29/12/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo liên lạc qua điện thoại nhờ người bạn tên H (quen ngoài xã hội không biết lý lịch, địa chỉ) mua hộ 300.000 đồng ma túy đá, H đồng ý. Đến khoảng 9 giờ 40 phút cùng ngày H gọi điện thoại cho bị cáo hẹn đến khu vực bến xe đưa đón công nhân của Công ty than K để lấy ma túy đá. Bị cáo đi bộ ra chỗ hẹn gặp H nhưng chưa có tiền nên bị cáo khất với H trả sau, H đưa cho bị cáo 01 túi nilon bên trong có ma túy đá rồi H bỏ đi còn bị cáo cầm ma túy trên tay trái đi bộ đến đoạn đường dân sinh thuộc tổ 6, khu 6, phường Mông Dương, thành phố C thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ ma túy và 02 điện thoại di động, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone để liên lạc với H nhờ mua ma túy, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel dùng để liên lạc với gia đình, bạn bè. Bị cáo có nhân thân xấu đúng như phần lý lịch đã nêu. Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ông Nguyễn Tất Y và ông Bùi Đình L là người chứng kiến trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: các ông chứng kiến công an kiểm tra bắt giữ Nguyễn Sỹ Đ, thu giữ 01 (một) túi nilon trong có chứa chất tinh thể màu trắng, Đ khai nhận đó là ma túy loại Methamphetamine ngoài ra công an còn thu giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel. Công an đã tiến hành lập biên bản, niêm phong số ma túy Methamphetamine và các vật chứng thu giữ của Đ theo đúng quy định.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Sỹ Đ từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2021 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Sỹ Đ không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo Nguyễn Sỹ Đ khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 29/12/2021; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; cũng như Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Nguyễn Sỹ Đ đã có hành vi tàng trữ 0,225 gam ma túy loại Methamphetamine vào ngày 29/12/2021 nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, do vậy cần chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà còn làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là hiểm hoạ đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà vẫn đi vào con đường phạm tội, chứng tỏ bị cáo thiếu ý thức rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt. Hội đồng xét xử có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội đã gây ra nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo nghiện ma túy vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số: 142/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy, đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, bị cáo không sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với người thanh niên tên H theo bị cáo khai là người mua hộ ma túy cho bị cáo, do không biết lý lịch địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Sỹ Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Nguyễn Sỹ Đ 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2021;
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì số: 142/KLGĐ còn nguyên dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, mặt sau dán màu vàng, máy có nhiều vết xước, kèm 01 sim (không xác định số sim), trên sim có 04 dãy số: 8984, 04800, 00243, 91958.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen, model: izi 115, số IMEI1: 352377075022224, số IMEI 2: 35237707502223, kèm 01 sim (không xác định số sim), trên sim có 4 dãy số: 8984, 04800, 03323, 22049; kèm 01 pin.
Tình trạng vật chứng, tài sản thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 121/BB-THA ngày 28/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Sỹ Đ phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân TP. C; - CQCSĐT CATP Cẩm Phả, CQ THA HS; - Trại tạm giam Công an tỉnh QN; - Chi cục Thi hành án dân sự TP.C; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Quýnh |