- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh Q phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 164 MT/PC09 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định (theo biên bản giao nhận vật chứng 21/6/2022 tại Ch…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 64/2022/HS-ST Ngày 19-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Bà Bùi Thị Kiểm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:67/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Minh Q, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1979, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Đường P, phường Đ, quận H, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Đặng Thị N; có vợ là Vy Thị N (chưa đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2019 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khoẻ người khác theo Quyết định số 02/QĐ-XPVPHC ngày 18/12/2019 của Công an quận Hải An; bị bắt tạm giữ ngày 21/4/2022 chuyển tạm giam ngày 22/4/2022; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 05 giờ 30 phút ngày 21/4/2022, Phạm Minh Q đi bộ một mình đến khu vực đường tàu Bình Hải, Máy Chai, Ngô Quyền, Hải Phòng tìm mua ma túy Heroine về để sử dụng. Tại đây, Q gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) ma túy và được người đó bán cho 01 gói nilon kích thước khoảng 1x1.5cm bên trong có cục bột màu trắng là ma túy Heroine. Mua được ma túy, Q cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 06 giờ cùng ngày, khi Q đi đến khu vực trước cửa nhà số 434 Lê Thánh Tông, Vạn Mỹ, Ngô Quyền Hải Phòng thì bị Công an quận Ngô Quyền kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ: Thu trong lòng bàn tay trái của Q 01 gói nilon kích thước khoảng 1x1.5cm bên trong có cục bột màu trắng.
Thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp số 43 ngày 21/4/2022 tại nhà của Phạm Minh Q tại số 205 đường Phủ Thượng Đoạn, phường Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Kết luận giám định số 164/KLGĐ-MT ngày 22/4/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Quy là ma túy, có khối lượng 0,17 gam, loại Heroine.
Tại Bản Cáo trạng số 06/CT-VKSNQ ngày 09/12/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Phạm Minh Q khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Minh Q mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không đề nghị hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định; Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 164MT/PC09 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao bì của mẫu vật. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của bị cáo Phạm Minh Q tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận Giám định số 164/KLGĐ-MT ngày 22/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Vào hồi 06 giờ 00 phút ngày 21/4/2022, tại trước cửa nhà số 434 đường Lê Thánh Tông, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Phạm Minh Q đã có hành vi cất giữ trái phép 0,17 gam ma túy Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Minh Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt đối với bị cáo:
[7] Hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người nghiện ma tuý, năm 2019 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khoẻ của người khác. Do đó cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, cải tạo tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
- Về xử lý vật chứng:
[9] 01 phong bì niêm phong số 164 MT/PC09 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Đối với người bán ma túy cho Phạm Minh Q chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có cơ sở sẽ xem xét xử lý sau.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Q 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2021.
Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 164 MT/PC09 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định (theo biên bản giao nhận vật chứng 21/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Minh Q phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Minh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - TAND TP Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN \ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |